vanban.org

Bản án 156/2023/HSST — Hình sự

TAND TP. Nam Định, tỉnh Nam Định Tuyên án 09/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Phạm Đình Kh phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Phạm Đình Kh 27 (Hai bẩy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18-4-2023. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Đình Khải - TTMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Đình Kh phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ N
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 156/2023/HSST
Ngày: 19-7-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Công Khánh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Liên

2. Ông Vũ Anh Tuấn

- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Nhung - Thư ký Toà án nhân dân thành phố N.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N tham gia phiên tòa: Ông Trần Quang Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố N tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 139/2023/TLST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 139/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:

Phạm Đình Kh, sinh năm 1972; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; nơi sinh: Tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Thôn Địch Lễ A, xã N, thành phố N, tỉnh Nam Định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Tự do; văn hóa: 6/12; con ông: Phạm Đình H (Đã chết) và bà Đinh Thị H, sinh năm 1957; gia đình có 03 anh em bị cáo là con thứ nhất; vợ: Lê Thị Kh, sinh năm 1969 và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 07-3-2006 Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; ngày 18-8-2010 Tòa án nhân dân thành phố N, tỉnh Nam Định xử phạt 33 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; ngày 23-01-2013 Công an xã N, thành phố N xử phạt vi phạm hành chính 1.000.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18-4-2023 sau đó chuyển tạm giam đến nay tại Trại tạm giam Công an tinht Nam Định; (Có mặt).

- Người làm chứng:

1. Ông Đỗ Văn T (Vắng mặt).

2. Ông Phạm Hữu H (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 18-4-2023, tổ công tác của công an phường C, thành phố N làm nhiệm vụ tại khu vực trước cửa nhà số 316 Đặng Xuân B, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định phát hiện Phạm Đình Kh đang điều khiển xe máy nhãn hiệu Wave RS, màu đỏ đen, biển kiểm soát 18B1-247.78 có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra, Kh đã tự giác giao nộp cho tổ công tác 01 gói ni lông màu đen, mở kiểm tra bên trong có 01 lớp ni lông màu đen bên trong 06 gói giấy bạc màu trắng đều chứa chất bột dạng cục màu trắng (Khải khai là 06 gói Heroine mua về để sử dụng). Tổ công tác đã niêm phong vật chứng và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang theo quy định. Ngoài ra, tổ công tác còn thu giữ của Khải xe máy biển kiểm soát 18B1-247.78, 01 điện thoại di động Nokia màu đen đã cũ.

Bản kết luận giám định số 627KL-KTHS ngày 21-4-2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định, kết luận: Mẫu bột dạng cục màu trắng trong 06 gói giấy bạc màu trắng, được niêm phong gửi giám định là ma túy. Loại ma túy: Heroine. Tổng khối lượng mẫu: 0,330 gam (Không phảy ba trăm ba mươi gam).

Tại Cơ quan điều tra, Phạm Đình Kh khai nhận: Khoảng 16 giờ 45 phút ngày 18-4-2023, K một mình điều khiển xe máy biển kiểm soát 18B1-247.78 từ nhà đến khu vực gầm cầu Đ, xã N, thành phố N, tỉnh Nam Định gặp một người đàn ông (không rõ lai lịch, địa chỉ) nhờ mua hộ 300.000 đồng Heroine. Người đàn ông đồng ý, nhận 300.000 đồng của Kh đưa rồi đi bộ vào trong một ngõ nhỏ (Kh không nhớ rõ địa chỉ ngõ). Khoảng 03 phút sau người đàn ông quay lại và đưa cho Kh 01 gói nilon màu đen và bảo Kh bên trong có 06 gói Heroine. Kh cầm gói ni lông màu đen bên trong có 06 gói Heroine vừa mua được cho vào trong hốc chắn bùn bánh trước của xe máy rồi đi tìm chỗ sử dụng thì bị phát hiện, bắt giữ.

Chiếc điện thoại di động màu đen mặt trước và sau đều có chữ NOKIA, Khải khai nhận là tài sản của Khải; chiếc xe máy biển kiểm soát 18B1-247.78, Cơ quan cảnh sát điều tra xác định là tài sản chung của Khải và vợ là chị Lê Thị Khéo.

Bản cáo trạng số 157/CT-VKSTPNĐ ngày 04-7-2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N truy tố bị cáo Phạm Đình Kh về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Sau đây được viết tắt là BLHS).

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Đình Kh khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy như bản cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N giữ quyền công tố tại phiên toà, luận tội và tranh luận: Giữ nguyên nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Đình Kh phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS

Xử phạt bị cáo Phạm Đình Kh từ 27 đến 30 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy vật chứng là số ma túy đã thu giữ. Trả lại bị cáo 01 chiếc xe máy biển kiểm soát 18B1-247.78 và 01 điện thoại di động Nokia màu đen nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

Bị cáo Phạm Đình Kh không tranh luận gì và nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo Phạm Đình Kh tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các chứng cứ khác như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Bản kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định; Lời khai của những người làm chứng cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 17 giờ ngày 18-4-2023, tại khu vực trước cửa số nhà 316 đường Đặng Xuân B, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định, Phạm Đình Kh đã tàng trữ trái phép chất ma tuý mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an ninh xã hội; bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi tàng trữ ma túy của mình bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện; khối lượng ma tuý bị cáo tàng trữ là 0,330 gam Heroine, vì vậy tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS nên quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N là đúng pháp luật.

[3] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo đối với hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo Phạm Đình Kh gây ảnh hưởng xấu đối với an ninh trật tự trên địa bàn thành phố N, bị cáo là người nghiện ma túy và có nhân thân xấu, (đã 02 lần bị kết án và 01 lần bị xử phạt vi phạm hành chính). Lần phạm tội này bị cáo đã tàng trữ 0,330 gam Heroine để sử dụng, nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn cách ly ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện răn đe, cải tạo, giáo dục và góp phần phòng ngừa chung nên quan điểm của Kiểm sát viên là tương đối phù hợp.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo Phạm Đình Kh là người nghiện ma túy, mục đích tàng trữ ma túy để sử dụng nên Hội đồng xét xử sẽ không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Cơ quan điều tra Công an thành phố N đã tách đối tượng bán ma túy cho Phạm Đình Kh để tiếp tục điều tra, xử lý sau là đúng pháp luật.

[7] Về xử lý vật chứng: Số ma tuý thu giữ của bị cáo là vật Nhà nước độc quyền quản lý, cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy. 01 chiếc xe máy biển kiểm soát 18B1-247.78 là tài sản chung của vợ chồng bị cáo, 01 điện thoại di động Nokia là tài sản của bị cáo không phải là công cụ, phương tiện phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

[8] Về án phí: Bị cáo Phạm Đình Kh bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Phạm Đình Kh phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS;

Xử phạt bị cáo Phạm Đình Kh 27 (Hai bẩy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18-4-2023.

2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

3. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy ma túy đã thu giữ trong phong bì niêm phong số 627/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định. Trả lại bị cáo 01 chiếc xe máy biển kiểm soát 18B1-247.78 và 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Nokia nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án (Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố N và Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố N).

4. Án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Phạm Đình Kh phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo Phạm Đình Kh có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ