- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Đức M. Vi phạm..giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Đức M, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 135/2023/HS-ST ngày 14/7/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 156/2023/HS-PT Ngày: 22-9-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Nguyễn Hữu Hồng
Các Thẩm phán:
Ông Đặng Ngọc Bình
Ông Đỗ Mạnh Hùng
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Quốc Huy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Bà Chu Thị Dịu - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý Số 177/2023/TLPT-HS ngày 18/8/2023 đối với bị cáo Phạm Đức M, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 135/2023/HS-ST ngày 14/7/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
* Bị cáo kháng cáo:
Họ và tên: Phạm Đức M; sinh năm 1986 tại Lâm Đồng; nơi ĐKHKTT: Thôn 1, xã ĐR, huyện ĐD, tỉnh Lâm Đồng; chỗ ở: 27 TQD, Phường 10, thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng; nghề nghiệp: Tự do; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; học vấn: 11/12; con ông: Phạm Trúc B; con bà: Ngô Thị Kh; vợ: Phan Thị Tr và có 01 con sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại. (có mặt)
Trong vụ án này, còn có đại diện hợp pháp của bị hại không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Đức M chưa có giấy phép lái xe hạng A1 theo quy định của pháp luật, ngày 28/3/2022, Mạnh điều khiển xe mô tô hiệu Honda Exciter biển số 49F1-377.96 có dung tích xi lanh 150 cm3 lưu thông trên đường Triệu Việt Vương, Phường 4, Đà Lạt theo hướng từ Thiền Viện Trúc Lâm về hướng An Sơn – Triệu Việt Vương, Phường 4, Đà Lạt. Khi lưu thông đến đoạn gần ngã ba Quảng Thừa do điều khiển xe đi không đúng phần đường quy định nên đã va chạm với xe mô tô biển số 49B1-520.59 do ông Phan Đình Nhân điều khiển chạy theo hướng ngược lại làm cả hai té ngã ra đường. Ông Nhân và bị cáo được đưa đến bệnh viện đa khoa tỉnh Lâm đồng cấp cứu, do vết thương quá nặng nên ông Nhân đã chết còn bị cáo tiếp tục điều trị.
Hiện trường vụ tai nạn nằm bên phải phần đường theo hướng An Sơn, Triệu Việt Vương về hướng chùa Trúc Lâm Thiền Viện. Mặt đường bê tông nhựa rộng 5,45 mét. Đoạn đường có vạch kẻ đường đứt quãng liên tục chia 2 phần đường riêng biệt. Lấy hướng An Sơn, Triệu Việt Vương về hướng Thiền Viện Trúc Lâm làm hướng chuẩn. Lấy mép đường bê tông nhựa bên phải đường theo hướng chuẩn làm lề chuẩn. Lấy trụ đèn chiếu sáng bên trái đường theo hướng chuẩn làm vật chuẩn, đơn vị đo tính bằng mét. Kết quả xác định hiện trường như sau:
- Vị trí dung dịch màu đỏ thẫm nằm bên phần đường bên trái theo hướng chuẩn. Tâm dung dịch đo vào lề chuẩn là 3,90 mét. Tâm dung dịch màu đỏ thẫm tới tâm bánh sau xe 49F1-377.96 là 1,8 mét.
- Vị trí xe mô tô 49F1-377.96 đổ ngã nằm ngang đầu hướng về lề chuẩn. Tâm bánh sau xe đo vào lề chuẩn là 3,25 mét, tâm bánh trước xe đo vào lề chuẩn là 2,40 mét. Tâm bánh trước xe tới tâm bánh sau xe 49B1-520.59 là 1,2 mét.
- Vị trí xe mô tô 49B1-520.59 đổ ngã sang phải đầu hướng về lề bên phải. Tâm bánh sau xe đo vào lề chuẩn là 1,4 mét tâm bánh trước xe đo vào lề chuẩn là 0,63 mét.
- Vị trí dung dịch màu đỏ thẫm nằm hên hông ngoài mặt đường nhựa theo hướng chuẩn. Tâm dung dịch đo vào lề chuẩn là 0,4 mét, cách tâm bánh trước xe 49B1-520.59 là 1,4 mét.
- Vị trí vùng mảnh vỡ phương tiện nằm trước vùng bánh trước xe 49F1-377.96, cách tâm bánh trước xe 49F1-377.96 là 0,42 mét, tâm đo vào lề chuẩn là 2,2 mét.
Tại Kết luận giám định số 417/KL-KTHS ngày 08/8/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng xác định:
- Vết trượt xước sơn, vết bám dính chất màu xám tại mặt trước Ốp trước trên phía bên trái của xe mô tô biển số 49F1-377.96 phù hợp với vết trượt xước sơn, vết bám dính chất màu đen, vết nứt nhựa tại mặt ốp trước trên phía bên trái của xe mô tô biển số 49B1-520.59.
- Không đủ cơ sở kết luận tốc độ của xe mô tô biển số 49F1-377.96 và xe mô tô biển số 49B1-520.59 ngay trước khi xảy ra tai nạn giao thông.
- Vào thời điểm xảy ra tai nạn giao thông, xe mô tô biển số 49F1-377.96 lưu thông trên đường Triệu Việt Vương theo chiều từ Thiền Viện Trúc Lâm về hướng An Sơn – Triệu Việt Vương, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
- Vào thời điểm xảy ra tai nạn giao thông, xe mô tô biển số 49B1-520.59 lưu thông trên đường Triệu Việt Vương theo chiều từ An Sơn – Triệu Việt Vương về hướng Thiền Viện Trúc Lâm, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
- Vùng va chạm đầu tiên trên mặt đường giữa xe mô tô biển số 49F1-377.96 với xe mô tô biển số 49B1-520.59 vào thời điểm xảy ra tai nạn giao thông thuộc phần đường lưu thông của xe mô tô biển số 49B1-520.59.
Cơ quan điều tra đã tiến hành thu giữ tang vật và các vật chứng khác liên quan đến vụ án.
Bị hại là ông Phan Đình Nhân, sinh năm: 1971. Hộ khẩu thường trú: 126 Nguyễn Trung Trực, Phường 4, Đà Lạt, Lâm Đồng chết. Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 46/2022/TgT ngày 31/03/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh Lâm Đồng kết luận nguyên nhân chết của Phan Đình Nhân: Đa chấn thương nặng do tai nạn giao thông.
Trách nhiệm dân sự: Sau khi tai nạn xảy ra, đại diện gia đình người bị hại là anh Phan Lê Anh Nhật yêu cầu bồi thường số tiền 391.180.000 đồng
Tại bản cáo trạng số 132/CT- VKSĐL ngày 26/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt truy tố bị cáo Phạm Đức M, về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây viết tắt là BLHS 2015).
Bản án hình sự sơ thẩm số 135/2023/HS-ST ngày 14/7/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt đã xử;
Tuyên bố bị cáo Phạm Đức M phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Căn cứ vào điểm a khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 38, 50 BLHS 2015. Xử phạt bị cáo Phạm Đức M 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, bản án còn tuyên trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 18/7/2023, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Bị cáo có thái độ thành khẩn, ăn năn hối cải, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Bản án hình sự sơ thẩm của Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt đã tuyên xử đối với bị cáo, đồng thời, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo và xuất trình hồ sơ xác nhận của Trung tâm y tế về việc bị cáo đang điều trị sang chấn tinh thần (não) do thương tích từ nguyên nhân tai nạn giao thông ngày 28/3/2022.
Đại diện gia đình bị hại có đơn gửi cấp phúc thẩm đề nghị xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa phúc thẩm phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm, áp dụng cho bị cáo thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 2 Điều 51 BLHS 2015, áp dụng Điều 65 BLHS 2015 giữ nguyên mức hình phạt tù và cho bị cáo được hưởng án treo, áp dụng thời gian thử thách theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (sau đây viết là HĐXX) nhận định như sau:
[1] Xét đơn kháng cáo của bị cáo gửi đến Toà án trong hạn luật định nên thời hạn kháng cáo của bị cáo là hợp lệ, nội dung kháng cáo xin được hưởng án treo.
[2] Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 28/3/2022, bị cáo không có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe mô tô Exciter biển số 49F1–377.96 có dung tích xi lanh 150 cm3 lưu thông trên đường Triệu Việt Vương, Phường 4, Đà Lạt theo hướng từ Thiền Viện Trúc Lâm về hướng An Sơn – Triệu Việt Vương. Khi lưu thông đến đoạn gần ngã ba Quảng Thừa, do điều khiển xe đi không đúng phần đường quy định đã gây tai nạn giao thông với xe mô tô biển số 49B1-520.59 do ông Phan Đình Nhân điều khiển, hậu quả làm ông Phan Đình Nhân chết.
[3] Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản án hình sự sơ thẩm của Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt đã xét xử. Tội phạm và hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo được bản án sơ thẩm phân tích, đánh giá và tuyên bố bị cáo Phạm Đức M đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 BLHS 2015 là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Xét kháng cáo của các bị cáo, HĐXX thấy rằng khi quyết định hình phạt bản án sơ thẩm đã áp dụng cho các bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS 2015, xử phạt bị cáo mức án 36 tháng tù là thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo xuất trình xác nhận của Bệnh viện việc di chứng của vết thương do tai nạn giao thông và tiếp tục điều trị để ổn định tinh thần; sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo và gia đình đã khắc phục toàn bộ hậu quả, được đại diện gia đình bị hại xin cho bị cáo được hưởng án treo, HĐXX nhận thấy, bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, có nơi cư trú rõ ràng, tội phạm do bị cáo thực hiện với lỗi vô ý; khi gây tai nạn bị cáo cũng bị chấn thương nặng phần đầu, hiện nay đang tiếp tục điều trị để tránh di chứng về não. Do vậy, cần áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 2 Điều 51 BLHS 2015 đối với bị cáo. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên HĐXX áp dụng Điều 65 BLHS 2015 cho bị cáo được hưởng án treo, không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[5] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Đức M, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 135/2023/HS-ST ngày 14/7/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt
1. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Phạm Đức M phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Về hình phạt:
Căn cứ vào điểm a khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Phạm Đức M 36 (ba mươi sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (22/9/2023)
Giao bị cáo Phạm Đức M cho Ủy ban nhân dân Phường 10, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo không phải chịu phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không có kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, hết thời hạn kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Lâm Đồng (01); - Vụ GĐKT I – TANDTC (01); - Phòng KTNV&THA (04); - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng (01); - TAND TP. Đà Lạt (04); - VKSND TP. Đà Lạt (01); - Cơ quan CSĐT CA TP. Đà Lạt (01); - Cơ quan THAHS TP. Đà Lạt (01); - Phòng PV 06 - Công an tỉnh Lâm Đồng (01); - Bị cáo (01); - Hồ sơ THAHS (01); - Lưu hồ sơ; Án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Hữu Hồng |