vanban.org

Bản án 156/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ B
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 156/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 26/5/2023
V/v: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Đào

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thái Hòa.

Ông Trần Văn Chánh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 5 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 477/2023/TLST-HNGĐ, ngày 08 tháng 3 năm 2023 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 216/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 243/2023/QĐST – HNGĐ ngày 26/4/2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Hoàng O, sinh năm 1997.

Địa chỉ: Số 18/8D, khu phố 5, phường Tam Hiệp, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Phước Quý Anh L, sinh năm 1992.

Địa chỉ: Số 18/8D, khu phố 5, phường Tam Hiệp, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

(Chị O có đơn xin vắng mặt, anh L vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và tại buổi hòa giải chị Nguyễn Hoàng O trình bày:

Chị và anh Nguyễn Phước Quý Anh L tự tìm hiểu nhau và tự nguyện kết hôn với nhau; có đăng ký kết hôn và đã được Ủy ban nhân dân phường Tam Hiệp, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn năm 2020. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng về sau thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau. Nguyên nhân, mâu thuẫn phát sinh chủ yếu do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung. Anh Lân thường xuyên chơi game đến khoảng 2 hoặc 3 giờ sáng, chị đã khuyên giải và nhắc nhở nhiểu lần nhưng không được. Dù hai bên đã cố gắng hòa giải đoàn tụ nhưng vẫn không thể đoàn tụ để xây dựng gia đình hạnh phúc. Nay chị không còn tình cảm với anh Lân nên đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa giải quyết cho chị được ly hôn với anh L.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo bản tự khai và tại buổi hòa giải anh Nguyễn Phước Quý Anh L trình bày: Quan hệ hôn nhân giữa anh và chị O là hoàn toàn tự nguyện. Anh còn yêu thương chị O nên không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai:

Về việc tuân thủ quy định của thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị O. Về con chung: Không có. Tài sản chung: Tự thỏa thuận, nợ chung không có, không yêu cầu giải quyết nên không đạt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ pháp luật, tư cách đương sự:

Nguyên đơn chị Nguyễn Hoàng O khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Phước Quý A Lân căn cứ Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xác định quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là ly hôn. Căn cứ vào Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xác định chị O là nguyên đơn, anh Lân là bị đơn trong vụ án.

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh Nguyễn Phước Quý Anh Lân hiện nay đang cư trú tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ vào các Điều 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

Về thủ tục tố tụng khác: Nguyên đơn chị Nguyễn Hoàng O có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Phước Quý A Lân đã được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không lý do nên căn cứ vào Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị O và anh L.

Nội dung vụ án:

[4.1[ Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Hoàng O và anh Nguyễn Phước Quý Anh L tự nguyện kết hôn, có làm thủ tục đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường Tam Hiệp, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 26/11/2020 nên áp dụng Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xác định là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Xét thấy, chị O xác định không còn tình cảm với anh Lân, do vợ chồng không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã, to tiếng với nhau. Nay nhận thấy không còn tình cảm vợ chồng với anh Lân nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh L. Anh Lân có lời khai cho rằng anh còn tình cảm yêu thương với chị O, anh mong muốn gia đình hàn gắn đoàn tụ nên không đồng ý ly hôn.

Theo biên bản xác minh mâu thuẫn tại địa phương ngày 05/4/2023 nơi chị Oanh và anh Lân sống chung với nhau xác định mâu thuẫn giữa các đương sự địa phương không nắm rõ do các đương sự không trình báo. Mặc dù, địa phương không nắm được mâu thuẫn giữa chị O và anh Lân. Anh L có lời khai mong muốn gia đình hàn gắn đoàn tụ nhưng lại vắng mặt tại các buổi xét xử của Tòa án là có ý bỏ mặc Tòa án giải quyết việc ly hôn giữa anh và chị Oanh. Mặt khác, anh Lân không đồng ý ly hôn nhưng chị O vẫn kiên quyết yêu cầu ly hôn là cho thấy, cuộc sống hôn nhân của chị O và anh L đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Từ những phân tích trên cho thấy, yêu cầu ly hôn của chị O là có cơ sở chấp nhận.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai phù hợp với chứng cứ có tại hồ sơ và nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Về án phí: Chị Nguyễn Hoàng O phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH;

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 68, khoản 4 Điều 147, Điều 220, Điều 228, 266 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Áp dụng các Điều 51, 56, 57 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Hoàng O đối với bị đơn anh Nguyễn Phước Quý Anh L về việc ly hôn.

Tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Hoàng O được ly hôn với anh Nguyễn Phước Quý Anh L.

Về con chung: Không có.

Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.

Về án phí: Chị Nguyễn Hoàng O phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) chị O đã nộp theo biên lai thu số 0006485 ngày 28/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa được tính trừ vào án phí chị Oanh phải chịu.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ