vanban.org

Bản án 156/2023/DSST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Đặng Ngọc A.

Buộc ông Lê Văn B trả cho chị Nguyễn Đặng Ngọc A số tiền nợ vay 313.000.000 đồng (ba trăm mười ba triệu đồng). Kể từ ngày chị A có đơn yêu cầu Thi hành án cho đến khi thi hành xong, nếu ông B chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải trả lãi theo lãi suất quy định tại khoản 2… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Vay"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Đặng Ngọc A.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ GẠO
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 156/2023/DSST
Ngày: 18/5/2023
V/v tranh chấp: “ Hợp đồng vay”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Lil;

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Quốc Thuần;

2. Ông Lê Anh Chiến;

- Thư ký phiên toà: Ông Đỗ Thanh Phong – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Trinh – kiểm sát viên.

Trong ngày 18 tháng 5 năm 2022 tại Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang xét xử công khai vụ án thụ lý số: 40/TLST-DS ngày 20/02/2023 về tranh chấp “Hợp đồng vay”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2023/QĐXXST-DS ngày 10/4/223 và quyết định hoãn phiên tòa số: 80/2023/QĐST – DS ngày 28/4/2023 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Nguyễn Đặng Ngọc A, sinh năm 1990 ( Có mặt);

Địa chỉ: Ấp M, xã N, huyện X, tỉnh Tiền Giang;

* Bị đơn: Lê Văn B, sinh năm 1966 ( vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp M1, xã N1, huyện X, tỉnh Tiền Giang.

Người làm chứng: Nguyễn Thị Tuyết C, sinh năm 1972 ( vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp M, xã N, huyện X, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Nguyên đơn Nguyễn Đặng Ngọc A trình bày: Chị và ông B có qua lại làm ăn chung với nhau. Vào ngày 19/5/2022 ông Lê Văn B có mượn chị số tiền: 313.000.000 đồng (Ba trăm mười ba triệu đồng) để mua đất. Khi cho mượn tiền chị có yêu cầu ông B làm biên nhận viết tay. Có người làm chứng là bà Nguyễn Thị Tuyết C. Chị và ông B có thoả thuận trước tết Nguyên Đáng 2023 (tức ngày 22/1/2023) sẽ hoàn trả lại toàn bộ số tiền là 313.000.000 đồng cho chị. Nhưng đến thời điểm hiện nay ông B không thực hiện trả nợ như đã hứa và cố tình né tránh không gặp mặt chị, chị đòi rất nhiều lần nhưng không trả, đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của chị. Nay chị khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết buộc ông B trả lại số tiền 313.000.000 đồng. Buộc ông B trả một lần khi bản án có hiệu lực pháp luật, không yêu cầu tính lãi.

Bị đơn ông Lê Văn B đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Không có nộp văn bản tài liệu, chứng cứ phản đối yêu cầu khởi kiện của chị A.

Người làm chứng bà Nguyễn Thị Tuyết C trình bày: Bà là bạn của chị A và anh B. Vào ngày 19/5/2022 bà chứng kiến việc anh B có gặp chị A để vay chị A số tiền 313.000.000 đồng để mua đất, anh B hứa hẹn đến sau tết Nguyên đáng sẽ trả lại tiền cho chị A, anh B nhận tiền xong và viết biên nhận nợ cho chị A, anh B có nhờ bà làm chứng ký tên vào biên nhận nợ.

Tại phiên tòa chị Nguyễn Đặng Ngọc A vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Việc tuân thủ pháp luật của thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử, và tại phiên tòa thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã chấp hành đúng các qui định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý và tại phiên tòa các đương sự có thực hiện đúng các qui định về quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng. Bị đơn chưa thực hiện đúng.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị A, buộc ông B có nghĩa vụ trả cho chị A số tiền 313.000.000 đồng, vì ông B đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, chị A đã cung cấp được bản chính biên nhận nợ và có bà C là người làm chứng trực tiếp chứng kiến việc hai bên vay tiền với nhau.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, xem xét toàn diện các chứng cứ, ý kiến trình bày của chị A tại phiên tòa; Hội đồng xét xử xét thấy;

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Căn cứ theo yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Đặng Ngọc A yêu cầu ông Lê Văn B có nghĩa vụ trả số tiền nợ vay 313.000.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là tranh chấp “hợp đồng vay” theo qui định tại Điều 463 Bộ luật dân sự; vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Đặng Ngọc A. Hội đồng xét xử nhận thấy vào ngày 19/5/2022 ông Lê Văn B có mượn chị A số tiền: 313.000.000 đồng. Khi cho mượn tiền chị A có yêu cầu ông B viết tay biên nhận nợ có người làm chứng là bà Nguyễn Thị Tuyết C. Chị A và ông B có thoả thuận trước tết Nguyên Đáng 2023 (tức ngày 22/1/2023) ông B sẽ hoàn trả lại toàn bộ số tiền là 313.000.000 đồng cho chị A. Nhưng ông B không thực hiện trả nợ như đã thỏa thuận và cố tình né tránh không gặp mặt chị A, chị A đòi rất nhiều lần nhưng không trả, đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của chị A nên buộc ông B trả lại số tiền 313.000.000 đồng là có căn cứ. Bởi lẽ, căn cứ vào chứng cứ do chị A cung cấp: Biên nhận nợ bản chính ngày 19/5/2022 có nội dung thể hiện ông B có vay số tiền 313.000.000 đồng của chị A và ký ghi rõ họ tên của ông Lê Văn B và người làm chứng bà Nguyễn Thị Tuyết C ký tên với tư cách chứng kiến việc hai bên cho vay tiền với nhau. Căn cứ vào biên nhận nợ do chị A cung cấp và lời khai của người làm chứng là bà C nên có cơ sở xác định ông B có vay 313.000.000 đồng từ chị A.

Tòa án đã tống đạt họp lệ các văn bản tố tụng cho ông B nhưng ông B vẫn vắng mặt không lý do và cũng không có gửi văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của chị A đối với ông B nên Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị A, buộc ông B có nghĩa vụ trả số tiền nợ vay 313.000.000 đồng cho chị A là phù hợp qui định tại Điều 466, Điều 468 Bộ luật dân sự .

Nguyên đơn chị A không yêu cầu tính lãi là tự nguyện nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí: Do chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên phía bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo qui định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 280, Điều 357, Điều 463, Điều 466, Điều 470, Điều 468 Bộ luật dân sự.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Đặng Ngọc A.

Buộc ông Lê Văn B trả cho chị Nguyễn Đặng Ngọc A số tiền nợ vay 313.000.000 đồng (ba trăm mười ba triệu đồng).

Kể từ ngày chị A có đơn yêu cầu Thi hành án cho đến khi thi hành xong, nếu ông B chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải trả lãi theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.

Án phí: Buộc ông B phải có nghĩa vụ nộp 15.650.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm; Hoàn lại cho chị A 7.825.000 đồng theo biên lai thu số 0025615 ngày 13/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Gạo.

Chị A có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông B có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt bản án họp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ