- Tranh chấp gì? án hình sự — "DƯƠNG TẤN S - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Dương Tấn S phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 156/2022/HS-ST Ngày: 29-12-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Kim Loan.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Thu Thủy
Ông Nguyễn Phùng Xuân Thu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Quỳnh Nương, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Minh Hiếu – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 12 năm 2022, tại Hội trường xử án Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 173/2022/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 612/2022/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2022, đối với bị cáo:
Họ và tên: Dương Tấn S, sinh ngày 08-4-1996, tại Quảng Ngãi; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn G, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi. Nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Tấn L và bà Nguyễn Thị H. Tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo là con thứ 2 trong gia đình có 4 chị em, bị cáo chưa có vợ, con.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12-8-2022 cho đến nay. Bị cáo bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ngãi, có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị H; sinh năm: 1975; nơi cư trú: Thôn A, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào tối ngày 12/8/2022, Dương Tấn S liên hệ một người phụ nữ tên “Bà Me” (không rõ nhân thân, lai lịch) tại một hẻm đường Lê Thánh Tôn thuộc phường Nghĩa Chánh, thành phố Quảng Ngãi (bị cáo không nhớ địa chỉ cụ thể) để hỏi mua 15 viên ma túy “kẹo” và 02 túi ni lông chứa ma túy “khay” với giá 6.000.000 đồng để đem về sử dụng cá nhân. Khoảng 20 giờ 10 phút cùng ngày, Sang cất giấu ma túy trong túi quần bên phải của mình và điều khiển xe mô tô biển số 76B1-760.68 tìm địa điểm để sử dụng ma túy. Khi Sang đến trước quán karaoke Dubai thuộc thôn T, xã T, thành phố Q thì bị tổ công tác của Đồn Biên phòng cửa khẩu cảng Sa Kỳ, Bộ đội biên phòng tỉnh Quảng Ngãi kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang Sang đang cất giấu trong túi quần bên phải 15 viên ma túy “Kẹo” và 02 túi ni lông chứa ma túy “khay”; đồng thời tạm giữ và niêm phong số ma túy trên cùng một số đồ vật, tài sản khác có liên quan.
Ngày 15/8/2022, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi kết luận giám định số: 805/KL-KTHS, kết luận:
- Chất rắn dạng hạt tinh thể màu trắng bên trong 02 túi nilon gửi giám định là ma túy; loại: Ketamine; có khối lượng mẫu: 2,43 gam.
- 15 viên nén màu hồng, hình dạng giống hình trái tim gửi giám định là ma túy; loại: MDMA; có khối lượng mẫu: 5,23 gam.
Tại bản Cáo trạng số 144/CT-VKS ngày 31 tháng 10 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi truy tố bị cáo Dương Tấn S về tội“Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng: Điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38, 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự,
Tuyên bố bị cáo Dương Tấn S phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Dương Tấn S từ 05 năm 06 tháng tù đến 06 năm tù.
Về vật chứng trong vụ án: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong gửi giám định. Trả lại cho bị cáo: 01 giấy phép lái xe; 01 căn cước công dân mang tên Dương Tấn S; 01 điện thoại di động màu vàng, bên ngoài mặt sau có chữ Iphone bên trong có gắn 01 thẻ sim Viettel; số tiền 300.000 đồng.
Ý kiến tranh luận của bị cáo: Không có ý kiến tranh luận gì.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Quảng Ngãi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Dương Tấn S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án nên có cơ sở kết luận: Ngày 12/8/2022, bị cáo Dương Tấn S cất giấu trong người 5,23 gam ma túy, loại MDMA và 2,43 gam ma túy loại Ketamine, mục đích để sử dụng thì bị Đồn Biên phòng cửa khẩu cảng Sa Kỳ, Bộ đội biên phòng tỉnh Quảng Ngãi bắt quả tang.
Tổng tỷ lệ phần trăm khối lượng các chất ma túy MDMA và Ketamine so với mức tối thiểu đối với từng chất quy định tại khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự: là (5,23 gam/5gam x 100%) + (2,43gam/20gam x 100%) = 116,75% > 100%. Vì vậy tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng của các chất ma túy so với mức tối thiểu đối với từng chất được quy định tại khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là trên 100%. Như vậy, phải tiếp tục tính tổng tỷ lệ phần trăm khối lượng các chất ma túy so với mức tối thiểu đối với từng chất quy định tại khoản 3 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ khoản 3, Điều 5, Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015, quy định: Tổng tỷ lệ phần trăm khối lượng các chất ma túy Ketamine và MDMA so với mức tối thiểu của từng chất quy định tại khoản 3 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 là: (5,23 gam/30 gam x 100%) + (2,43 gam/100 gam x 100%) = 19,86% < 100% nên không thuộc trường hợp quy định tại điểm h khoản 3 Điều 249 Bộ lụật Hình Sự 2015.
Như vậy, hành vi này của Dương Tấn S đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi truy tố bị cáo Dương Tấn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Hành vi của bị cáo Dương Tấn S là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về ma túy và các chất gây nghiện, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, làm cho quần chúng Nhân dân hoang mang lo sợ. Bản thân bị cáo là người đủ năng lực hành vi, nhận thức được tác hại của ma túy, biết được việc tàng trữ trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo cố tình thực hiện hành vi phạm tội nên cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định nhằm răn đe, giáo dục bị cáo có ý thức tuân thủ pháp luật và phòng ngừa chung, nhất là trong giai đoạn hiện nay, tình hình tội phạm về ma túy diễn ra ngày càng nhiều, thủ đoạn ngày càng tinh vi, để lại những hậu quả nặng nề, gây nhiều bức xúc cho xã hội.
Khi quyết định hình phạt cho bị cáo, Hội đồng xét xử xét các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự; năm 2017 được Chính ủy Trung đoàn Bộ Binh 38 tặng danh hiệu Chiến sỹ tiến tiến (Tiểu đội trưởng, Trung đội 7, Đại đội 7, Tiểu đoàn BB5) nên áp dụng điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có. Tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo có nhân thân tốt.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Số ma túy còn lại sau giám định cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong gửi giám định được niêm phong trong cùng 01 phong bì số: 805/KTHS (GĐ-2022), trên giáp lai có chữ ký của những người tham gia đóng gói và hình dấu của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi, tuyên tịch thu tiêu hủy.
- 01 giấy phép lái xe và 01 căn cước công dân mang tên Dương Tấn S; 01 điện thoại di động màu vàng, bên ngoài mặt sau có chữ Iphone bên trong có gắn 01 thẻ sim Viettel; số tiền 300.000 đồng, đây là các tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến vụ án nên tuyên trả lại cho bị cáo.
Đối tượng có liên quan trong vụ án:
- 01 xe máy nhãn hiệu: Honda, số loại: SH 150I, màu trắng, biển số: 76B1-760.68 do bà Nguyễn Thị H (là mẹ ruột của bị cáo S) đứng tên chủ sở hữu. Ngày 08/8/2022, bà H cho S mượn xe mô tô trên nhưng bà H không biết Sang sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Quảng Ngãi trả xe mô tô nêu trên và 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô mang biển số: 76B1-760.68 cho bà Nguyễn Thị H.
- Đối với người tên “bà Me” bán ma túy cho Dương Tấn S: Bị cáo không biết về nhân thân, lai lịch, đặc điểm, địa chỉ người bán ma túy này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Quảng Ngãi không đủ căn cứ để xác minh, làm rõ.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi về tội danh, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử lý vật chứng và các vấn đề khác là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Riêng về mức hình phạt hơi nghiêm khắc.
Về án phí: Bị cáo Dương Tấn S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38, 47, 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Điều 106, 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố bị cáo Dương Tấn S phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Dương Tấn S 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12-8-2022.
2. Về vật chứng:
- Tuyên tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong gửi giám định được niêm phong trong cùng 01 phong bì số: 805/KTHS (GĐ-2022), trên giáp lai có chữ ký của những người tham gia đóng gói và hình dấu của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi.
- Tuyên trả lại cho bị cáo Dương Tấn S: 01 giấy phép lái xe; 01 căn cước công dân số 051096009469 cùng mang tên Dương Tấn S; 01 điện thoại di động màu vàng, bên ngoài mặt sau có chữ Iphone bên trong có gắn 01 thẻ sim Viettel; số tiền 300.000 đồng.
Vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 29-12-2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi. Tiền theo Ủy nhiệm chi ngày 29-12-2022.
3. Về án phí: Buộc bị cáo Dương Tấn S phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Dương Tấn S, bà Nguyễn Thị H có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND tỉnh Quảng Ngãi; - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND Tp. Quảng Ngãi; - CQ cảnh sát điều tra Công an Tp. Quảng Ngãi; - Cơ quan THAHS Công an Tp. Quảng Ngãi; - Phòng NVLT Công an Tp. Quảng Ngãi; - Chi Cục THADS Tp. Quảng Ngãi; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng khác; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Kim Loan |