vanban.org

Bản án 156/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 21/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn HH01 (một) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 31/5/2022.

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Về vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Huy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn HH01 (một) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 31/5/2022.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
T PHỐ BG
TỈNH BG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 156/2022/HS-ST
Ngày 21 tháng 9 năm 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN T PHỐ BG

T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Mạnh T

Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn VT

2. Ông Nguyễn Văn B

Thư ký phiên toà: Bà Tống Lan H – Thư ký Toà án nhân dân T phố BG

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân T phố BG tham gia phiên tòa: Ông Đặng Đức Hg - Kiểm sát viên

Ngày 21 tháng 9 năm 2022, tại Điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh BG và Điểm cầu T phần Trại tạm giam Công an tỉnh BG, Tòa án nhân dân T phố BG xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 149/2022/HSST ngày 24 tháng 8 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 156/2022/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2022,

Đối với bị cáo: Nguyễn Văn Huy, sinh năm 1964; Nơi cư trú: Số nhà 11, ngõ 28, đường bờ đê tổ Tn T, phường Đa M, T phố BG, tỉnh BG; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hoá: 08/10; Con ông Nguyễn VTớc, sinh năm 1916 (Đã chết) và bà Phạm Thị Đc, sinh năm 1922 (Đã chết); Gia đình có 06 anh em, bị cáo là con thứ 5; Vợ: Thân Thị Duyên (Đã ly hôn); Con: Không có.

- Nhân thân:

+ Bản án số 44 ngày 18/5/1989, bị Tòa án nhân dân thị xã BG xử phạt 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tsản của công dân”;

+ Bản án số 16 ngày 13/3/1990 bị Tòa án nhân dân thị xã BG xử phạt 08 tù về tội “Công nhiên Cếm đoạt tsản của công dân”. Tổng hợp Bản án số 44 ngày 18/5/1989 buộc HHphải chấp hành hình phạt chung là 12 tháng tù;

+ Bản án số 200 ngày 14/3/1991, Tòa án nhân dân tối cao xử phạt 12 năm tù về tội “Cướp tsản của công dân”. Tổng hợp hình phạt bản án số 16 ngày 13/3/1990 buộc HHphải chấp hành hình phạt chung là 12 năm 07 tháng 22 ngày tù (xác minh không tìm thấy sổ sách thi hành án);

+ Năm 2008, Công an T phố BG xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”;

+ Quyết định số 243 ngày 20/01/2009, Chủ tịch UBND T phố BG áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc, thời hạn 12 tháng;

+ Bản án số 255 ngày 24/9/2012, Tòa án nhân dân T phố BG xử 02 năm 08 tháng tù về tội “Tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma tuý”; Đã chấp hành xong án phí 200.000 đồng và hình phạt bổ sung 5.000.000 đồng.

+ Bản án số 184 ngày 10/11/2016 bị Tòa án nhân dân T phố BG xử 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Đã chấp hành xong án phí 200.000 đồng.

Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/5/2022 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh BG, có mặt tại phiên tòa.

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà Nguyễn Thị Tn, sinh năm 1955.

Địa chỉ: Số nhà 116 đường Ho Hoa Thám, phường Đa M, T phố BG, tỉnh BG.

- Chị Phạm Thị K L, sinh năm 1982.

Địa chỉ: Số nhà 120 đường Lý Tự Trọng, phường X G, T phố BG, tỉnh BG.

- Anh Nguyễn HHHo, sinh năm 1991.

Địa chỉ: Thôn Từ Xuyên, xã P S, huyện L N, tỉnh BG.

- Anh Đặng Văn Hi, sinh năm 1982.

Địa chỉ: Tổ dân phố NG, phường X G, T phố BG, tỉnh BG.

*Người làm chứng:

- Chị Cao Thị Thùy C, sinh năm 1990.

Địa chỉ: Số nhà 293, ngõ 26, tổ dân phố C Ly 1, phường Trần Phú, T phố BG, tỉnh BG.

- Anh Giáp Văn Tài, sinh năm 1991.

Địa chỉ: Thôn Tn Dĩnh, xã Tn Hưng, huyện Lạng Giang, tỉnh BG.

- Anh Nghiêm Xuân T, sinh năm 1970.

Địa chỉ: Số nhà 17, tổ dân phố Giáp Hải, phường Dĩnh Kế, T phố BG, tỉnh BG.

(Bà Tn có mặt, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khác và người làm chứng đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tliệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 31/5/2022, Nguyễn Văn Huy, sinh năm 1964, trú tại số nhà 11, ngõ 28, đường bờ đê tổ Tn T, phường Đa M, T phố BG đang ở nhà thì có anh Nghiêm Xuân T, sinh năm 1970, trú tại số 17, tổ dân phố Giáp Hải, phường Dĩnh Kế, T phố BG gọi HHđến phòng 201, nhà nghỉ 81 chơi, HHđồng ý. Do có nhu cầu sử dụng ma tuý, HHđiều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave, biển số 98E1-616.53 đi một mình từ nhà lên khu vực cầu sắt Mỹ Độ, T phố BG để mua ma tuý. Tại đây, HHgặp một người đàn ông không quen biết đang ngồi trên xe máy ven đường. HHhỏi mua 400.000 đồng ma tuý, người đàn ông đồng ý bán cho HHma tuý đá và 02 viên ma tuý ngựa, đựng trong 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá nhựa, viền màu đỏ. HHnhận số ma tuý trên cho vào túi quần phía trước bên trái đang mặc và đến nhà nghỉ 81, địa chỉ tổ dân phố NG, phường X G, T phố BG, tỉnh BG. Khoảng 14 giờ 50 phút, khi tới phòng 201, nhà nghỉ 81, HHbỏ từ trong túi quần, đặt số ma tuý đã mua được lên trên mặt đệm giường gần chỗ HHngồi. Đúng lúc này, tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh BG phối hợp với Công an phường X G, Công an T phố BG kiểm tra, bắt quả tang HHvề hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, thu giữ 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá nhựa, bên trong đựng 02 viên nén hình tròn màu hồng đỏ và chất tinh thể màu trắng, HHkhai nhận là của Huy, mục đích để sử dụng. Cơ quan Công an tiến hành niêm phong số ma tuý đã thu giữ, được niêm phong kí hiệu “QT” và đưa HHvề trụ sở công an để làm việc. Ngoài ra, thu giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn cam, biển kiểm soát 98E1-616.53, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu xanh, đã qua sử dụng; số tiền mặt 1.200.000 đồng.

Ngày 31/5/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an T phố BG đã trưng cầu giám định Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh BG. Tại Kết luận giám định số 940/KL-KTHS ngày 02/6/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh BG, kết luận:

“Trong 01 (một) phong bì có ký hiệu “QT” đã được niêm phong gửi giám định: Chất tinh thể màu trắng và 02 viên nén hình tròn màu hồng đỏ đựng trong 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khoá bằng nhựa là ma tuý, có tổng khối lượng 0,407 gam, loại Methamphetamine”.

Cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành khám xét tại nơi ở của Huy, thu giữ: 01 hộp kim loại hình trụ tròn màu xanh có nắp đậy, trên mặt nắp có chữ “Nivea”, bên trong đựng nhiều vỏ túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá nhựa và 03 đoạn ống hút bằng nhựa, trong đó có 01 đoạn ống hút màu cam, một đầu có gắn đoạn giấy bạc, được phát hiện và thu giữ trong ngăn tủ kệ cạnh chân giường tại phòng ngủ.

Quá trình điều tra xác định: Cao Thị Thuỳ C, sinh năm 1990, trú tại: số nhà 293, ngõ 26, tổ dân phố C Ly 1, phường Trần Phú, T phố BG, tỉnh BG; Nghiêm Xuân T, sinh năm 1970, trú tại: số nhà 17, tổ dân phố Giáp Hải, phường Dĩnh Kế, T phố BG, tỉnh BG; Giáp Văn Tài, sinh năm 1991, trú tại: thôn Tn Dĩnh, xã Tn Hưng, huyện Lạng Giang, tỉnh BG là những người có mặt tại phòng 201, nhà nghỉ 81 thuộc tổ dân phố NG, phường X G, T phố BG cùng với Nguyễn Văn Huy; Phan Thị K L, sinh năm 1982, trú tại: Số 12 đường Lý Tự Trọng, phường X G, T phố BG, là người quản lý nhà nghỉ 81 cho T thuê phòng; Đặng Văn Hi, sinh năm 1982, trú tại: tổ dân phố NG, phường X G, T phố BG là chủ nhà nghỉ 81, đều không biết việc HHcó ma tuý để sử dụng nên Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý.

Đối với Cếc xe mô tô biển kiểm soát 98E1-616.53, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu là của bà Nguyễn Thị Tn, sinh năm 1955, trú tại số nhà 116, đường Ho Hoa Thám, phường Đa M, T phố BG là chị ruột của Huy. Bà Tn cho HHmượn xe mô tô để đi làm, không biết việc HHsử dụng xe mô tô để đi mua ma tuý.

Đối với người đàn ông bán ma tuý cho Huy, do người đàn ông đeo khẩu trang, đội mũ bảo hiểm nên HHkhông nhìn rõ mặt, HHkhông quen biết nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh, xác định người đó để xử lý.

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo HHđã khai nhận toàn bộ hành vi như nêu trên.

Cáo trạng số 150/CT-VKS ngày 22/8/2022 của Viện kiểm sát nhân dân T phố BG truy tố bị cáo Nguyễn Văn HHvề tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi như nêu trên.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Tn trình bày: Bà là chị ruột của bị cáo, Cếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave, biển số 98E1-616.53 là của bà cho bị cáo mượn, bà không biết việc bị cáo sử dụng Cếc xe này đi mua ma túy. Nay bà đề nghị xin được nhận lại Cếc xe này.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt nhưng có lời khai trong hồ sơ như nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử như sau:

1. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Xử phạt: Nguyễn Văn HHtừ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 31/5/2022.

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

2. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- Trả lại cho bà Nguyễn Thị Tn 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn cam, biển kiểm soát 98E1-616.53, đã qua sử dụng;

- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu xanh, đã qua sử dụng và số tiền mặt 1.200.000 đồng;

- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 hộp kim loại hình trụ tròn màu xanh có nắp đậy, trên mặt nắp có chữ “Nivea”, bên trong đựng nhiều vỏ túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá nhựa và 03 đoạn ống hút bằng nhựa, trong đó có 01 đoạn ống hút màu cam, một đầu có gắn đoạn giấy bạc.

3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tliệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an T phố BG, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân T phố BG, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Về sự có mặt của những người tham gia tố tụng: Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt, nhưng đã được triệu tập hợp lệ và có đầy đủ lời khai trong hồ sơ, nên căn cứ vào Điều 292, Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt.

Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai tại của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng thu giữ, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 14 giờ 50 phút, ngày 31/5/2022 tại phòng 201, nhà nghỉ 81 thuộc tổ dân phố NG, phường X G, T phố BG, tỉnh BG, tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh BG phối hợp với Công an phường X G, Công an T phố BG bắt quả tang Nguyễn Văn Huy, sinh năm 1964, trú tại: số nhà 11, ngõ 28, đường bờ đê tổ Tn T, phường Đa M, T phố BG, tỉnh BG có hành vi tàng trữ trái phép 0,407 gam, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng.

Hành vi nêu trên của bị cáo HHđã đủ yếu tố cấu T tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân T phố BG truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản trên là có căn cứ.

Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định về quản lý và sử dụng các chất ma túy của Nhà nước. Hành vi của bị cáo là nguyên nhân kéo theo nhiều tội phạm nguy hiểm khác như: trộm cắp tsản, cướp tsản...., là căn nguyên của căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS..., là nguyên nhân lớn ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình, an toàn trật tự công cộng của xã hội. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, do vậy, cần xử nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với những tội này.

Xét về nhân thân của bị cáo thì thấy: Bị cáo có nhân thân xấu, đã 03 lần bị Tòa án xét xử về các tội xâm phạm sở hữu và và 02 lần xử các tội về ma tuý, 02 lần bị xử lý hành chính.

Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ T khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 53 của Bộ luật hình sự, cần xem xét áp dụng cho bị cáo khi lượng hình.

Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Với tính chất hành vi phạm tội, vai trò của bị cáo, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo nêu trên, xét thấy: Cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có thể giáo dục, răn đe bị cáo tự cải tạo để sau này trở T công dân có ích.

Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt chính mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công ăn việc làm ổn định, nên miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.

Về vật chứng:

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn cam, biển kiểm soát 98E1-616.53, đã qua sử dụng là tsản của bà Tn. Khi cho bị cáo mượn sử dụng, bà Tn không biết bị cáo dùng vào việc đi mua ma túy, do vậy, cần trả lại Cếc xe mô tô cho bà Tn.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu xanh, đã qua sử dụng; số tiền mặt 1.200.000 đồng là tsản của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo, nhưng tạm giữ lại số tiền 1.200.000đồng để đảm bảo thi hành án.

- 01 phong bì đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định đã được nhập kho vật chứng là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy;

- 01 hộp kim loại hình trụ tròn màu xanh có nắp đậy, trên mặt nắp có chữ “Nivea”, bên trong đựng nhiều vỏ túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá nhựa và 03 đoạn ống hút bằng nhựa, trong đó có 01 đoạn ống hút màu cam, một đầu có gắn đoạn giấy bạc không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.

Vấn đề khác trong vụ án:

Đối với Cao Thị Thuỳ C, sinh năm 1990, trú tại: số nhà 293, ngõ 26, tổ dân phố C Ly 1, phường Trần Phú, T phố BG, tỉnh BG; Nghiêm Xuân T, sinh năm 1970, trú tại: số nhà 17, tổ dân phố Giáp Hải, phường Dĩnh Kế, T phố BG, tỉnh BG; Giáp Văn Tài, sinh năm 1991, trú tại: thôn Tn Dĩnh, xã Tn Hưng, huyện Lạng Giang, tỉnh BG là những người có mặt tại phòng 201, nhà nghỉ 81 thuộc tổ dân phố NG, phường X G, T phố BG cùng với Nguyễn Văn Huy; Phan Thị K L, sinh năm 1982, trú tại: Số 12 đường Lý Tự Trọng, phường X G, T phố BG, là người quản lý nhà nghỉ 81 cho T thuê phòng; Đặng Văn Hi, sinh năm 1982, trú tại: tổ dân phố NG, phường X G, T phố BG là chủ nhà nghỉ 81, đều không biết việc HHcó ma tuý để sử dụng nên Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý là có căn cứ nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 136; điểm a, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106, Điều 292; Điều 293; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1.Về tội danh và hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn HH01 (một) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam 31/5/2022.

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

2. Về vật chứng:

- Trả lại cho bà Nguyễn Thị Tn 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn cam, biển kiểm soát 98E1-616.53, đã qua sử dụng;

- Trả lại cho bị cáo Huy: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu xanh, đã qua sử dụng; số tiền mặt 1.200.000 đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng), nhưng tạm giữ lại số tiền 1.200.000đồng (Một triệu hai trăm nghìn đồng) để đảm bảo thi hành án.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định đã được nhập kho vật chứng; 01 hộp kim loại hình trụ tròn màu xanh có nắp đậy, trên mặt nắp có chữ “Nivea”, bên trong đựng nhiều vỏ túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khoá nhựa và 03 đoạn ống hút bằng nhựa, trong đó có 01 đoạn ống hút màu cam, một đầu có gắn đoạn giấy bạc.

3. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn HHphải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

- Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án theo quy định.

5. Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ