vanban.org

Bản án 156/2020/HSST — Hình sự

TAND TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 16/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt: Mai Đỗ Th 42 (Bốn mươi hai) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/02/2020. Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mai Đỗ Thông phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt: Mai Đỗ Th 42 (Bốn mươi hai) tháng tù.
  • Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THANH HÓA
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 156/2020/HSST
Ngày: 16-6-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA - TỈNH THANH HOÁ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trương Thị Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Vụ

Bà Nguyễn Thị Minh Thảo

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Duy Ninh- Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hoá.

Đại diện VKSND thành phố Thanh Hóa tham gia phiên toà: Bà Ninh Thị Tám - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 151/2020/HSST, ngày 08 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 171/2020/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:

Mai Đỗ Th, sinh năm 1996. HKTT : Số 55 đường Ng, phường B, thành phố H, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 6/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Đăng Kh (Đã chết) và bà Mai Thị Thu H, sinh năm 1962; Có vợ là Nguyễn Thị Th, có 01 con sinh năm 2019; Tiền án, Tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giam từ ngày 17/02/2020. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thanh Hóa; Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23h15 phút ngày 02/01/2020, tổ tuần tra Phòng Cảnh sát cơ động Công an tỉnh Thanh Hóa đang làm nhiệm vụ tuần tra tại khu vực trước quán Karaoke số 26 phố N, phường Đ, thành phố H thì phát hiện Mai Đỗ Th có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, thu giữ trong túi quần bên phải Th đang mặc 02 gói nilon màu trắng, trong đó 01 túi nilon chứa các hạt tinh thể màu trắng và 01 túi nilon bên trong chứa 03 viên nén màu xanh, hình dạng mặt ông già. Th khai đây là ma túy, Th mang đi bán cho khách nhưng chưa bán được thì bị phát hiện. Tổ tuần tra đã lập biên bản phạm tội quả tang, thu giữ tang vật.

Ngoài ra còn thu giữ của Th 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu đỏ đen, không biển kiểm soát.

Tại cơ quan điều tra, Mai Đỗ Th khai nhận: Vào khoảng 23h ngày 02/01/2020, Th có gọi điện cho một người đàn ông tên L, hẹn gặp ở ngã tư Voi, phường Đ, thành phố H và lấy số ma túy trên với giá 3.000.000đ. Sau đó Th điều khiển xe mô tô đến trước quán Karaoke, phường Đ, thành phố H để bán số ma túy trên cho khách kiếm lời nhưng chưa kịp bán thì bị phát hiện, thu giữ tang vật.

Đối với người đàn ông tên L, Th khai đã bán ma túy cho Th có địa chỉ ở ngã tư Voi, phường Đ. Cơ quan CSĐT Công an thành phố H đã phối hợp với Công an phường Đ xác minh, rà soát nhưng không xác định được nên không có cơ sở để xác minh, xử lý.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu đỏ đen, không biển kiểm soát, trong quá trình điều tra xác định chiếc xe có BKS 84E-307.19 của anh Thạch Sô Ph, sinh năm 1982, trú tại ấp S, xã L, huyện C, tỉnh Trà Vinh bán lại cho anh Lê Văn T, trú tại phố L, phường Đ, thành phố H. Ngày 02/01/2020, Th mượn chiếc xe trên của anh T, nói là đi việc nhưng không nói đi đâu, anh T đã đồng ý cho Th mượn xe. Việc Th sử dụng xe để đi bán ma túy, anh T không biết, không liên quan đến việc mua bán ma túy của Th nên cơ quan điều tra đã trả lại xe cho anh T.

Tại Bản kết luận giám định số 449/PC09 ngày 08/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa đã kết luận:

- Các hạt tinh thể màu trắng của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng trọng lượng 1,179g, loại Ketamine.

- 03 viên nén màu xanh hình dạng mặt ông già của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng trọng lượng 1,538g, loại MDMA.

Căn cứ vào điểm 3 mục II phụ lục về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích các chất ma túy theo quy định tại điểm a,b khoản 2 Điều 5 Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính Phủ thì các chất ma túy thu giữ của Mai Đỗ Thông có khối lượng như sau:

Tỷ lệ % về khối lượng của 1,179g Ketamine so với mức tối thiểu đối với các chất ma túy khác ở thể rắn được quy định tại điểm n khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là 5,895% (1,179g so với 20g).

Tỷ lệ % về khối lượng của 1,538g MDMA so với mức tối thiểu đối với loại MDMA được quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự là 30,76% (1,538g so với 5g).

Như vậy, tổng khối lượng 02 chất ma túy là 5,895% + 30,76% = 36,655% (Thuộc trường hợp dưới 100%).

Tại cáo trạng số 140/CT-VKS-MT, ngày 06/5/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H truy tố Mai Đỗ Th về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa hôm nay

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố H, tỉnh Thanh Hóa giữ nguyên Quyết định truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015; Tuyên bố bị cáo Mai Đỗ Th phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 36 tháng đến 42 tháng tù; và đề nghị xử lý vật chứng.

Hình phạt bổ sung: Đề nghị phạt tiền bị cáo từ 7.000.000đ đến 10.000.000đ.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin được hưởng sự khoan hồng với mức hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thanh Hóa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Mai Đỗ Th thừa nhận: Khoảng 23h15 phút ngày 02/01/2020 Mai Đỗ Th cất giấu trong người 02 gói ma túy, bên trong chứa các hạt tinh thể màu trắng có tổng trọng lượng 1,179g, loại Ketamine và 03 viên nén màu xanh hình dạng mặt ông già có tổng trọng lượng 1,538g, loại MDMA nhằm mục đích mang đi bán kiếm lời thì bị tổ tuần tra Phòng Cảnh sát cơ động Công an tỉnh Thanh Hóa đang làm nhiệm vụ tuần tra tại khu vực trước quán Karaoke số 26 phố Ng, phường Đ, thành phố H phát hiện, bắt quả tang và thu giữ tang vật.

Lời nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Quyết định truy tố và lời luận tội của Viện kiểm sát tại phiên toà là có căn cứ. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận Mai Đỗ Th phạm tội“Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015.

Về trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo biết rõ ma túy là tệ nạn nguy hiểm cho xã hội, gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng đến đời sống của nhiều gia đình. Ma túy đã làm kiệt quệ về sức khỏe và tài sản, là nguyên nhân làm gia tăng tội phạm, gây lan truyền căn bệnh HIV/ADS. Bản thân bị cáo là người có sức khỏe, có nhận thức nhưng không chịu làm ăn lương thiện, vì hám lời nên đã mua bán trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý về các chất gây nghiện của Nhà nước và còn gây mất trật tự trị an xã hội.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự .

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội, nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Với tính chất vụ án nghiêm trọng, xét cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời

sống xã hội một thời gian như vậy mới đủ điều kiện cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sụng: Bị cáo phạm tội vì mục đích lợi nhuận nên ngoài hình phạt chính cần áp dụng hình phạt bổ sung, phạt bị cáo một khoản tiền để sung quỹ Nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Đối với số ma túy còn lại sau giám định là mặt hàng Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật .

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015. Tuyên bố: Bị cáo Mai Đỗ Th phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Mai Đỗ Th 42 (Bốn mươi hai) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/02/2020.

Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015.

Phạt tiền bị cáo Thông 7.000.000đ (Bảy triệu đồng) để sung công quỹ Nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu huỷ Hai phong bì ma túy niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, được đóng dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa. Bên trong chứa 0,918g các hạt tinh thể và 02 viên nén màu xanh có khối lượng 1,043g (còn lại sau giám định).

Hiện số tang vật và tài sản đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố H theo biên bản giao nhận vật chứng số 134/THA ngày 12/5/2020 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H với Công an thành phố H.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH 14.

Bị cáo Mai Đỗ Th phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ