- Tranh chấp gì? án hình sự — "ĐẬU VĂN D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đậu Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 156/2020/HS-ST Ngày: 18-12-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Hạnh
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Quang Học
2. Ông Nguyễn Văn Tòng
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa
- Đại diện VKSND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Quỳnh – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 12 năm 2020, tại Toà án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 151/2020/TLST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 170/2020/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 12 năm 2020 đối với bị cáo:
Đậu Văn D - Sinh ngày: 09/03/1990 tại xã N, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi thường trú: Thôn B, xã N, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 03/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đậu Văn P (đã chết) và con bà: Trần Thị T - Sinh năm: 1963; Có vợ: Nguyễn Thị H - Sinh năm: 1993; có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2011, con nhỏ nhất sinh năm 2020.
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/9/2020 đến nay, có mặt tại phiên tòa;
* Người có quyền lợi liên quan: Chị Nguyễn Thị H – Sinh năm: 1993
Địa chỉ: Thôn B, xã N, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa (Có mặt)
* Người làm chứng:
1. Anh Nguyễn Sỹ S – Sinh năm: 1984
2. Anh Lê Văn L – Sinh năm: 1976
3. Anh Lê Văn M – Sinh năm: 1976
Đều có địa chỉ: Thôn H, phường M, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa (Đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 15 phút ngày 12/9/2020, tại thôn H, phường M, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa, trong quá trình tuần tra làm nhiệm vụ, tổ Công tác Công an phường M – Công an thị xã Nghi Sơn phối hợp với tổ cảnh sát cơ động khu kinh tế Nghi Sơn nhận thấy Đậu Văn D có biểu hiện nghi vấn vi phạm pháp luật nên tiến hành kiểm tra. Khi thấy lực lượng công an lại gần, D đã ném từ trên tay xuống đất 02 (hai) gói giấy nhỏ màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng ngà, dạng cục vụn nghi là ma túy. Tiến hành kiểm tra trên người D, tổ công tác phát hiện và thu giữ 01 (một) tờ tiền Việt nam mệnh giá 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) số seri: LM188689489 và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu HUAWEI màu xanh. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong đồ vật theo đúng quy định và bàn giao đến Cơ quan CSĐT Công an thị xã Nghi Sơn để tiến hành điều tra theo thẩm quyền. Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của D không thu giữ được đồ vật tài liệu gì liên quan đến vụ án.
Quá trình điều tra, Đậu Văn D khai nhận: Do có nhu cầu sử dụng trái phép chất ma túy nên D đến khu vực thôn H, phường M, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa và mua ma túy của một người đàn ông không quen biết với giá 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
Tại Bản kết luận giám định số 2580/PC09 ngày 16/9/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, tổng khối lượng là 0,185g (không phẩy một tám lăm gam), loại Heroine.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng
- 01 tờ tiền Việt Nam đồng mệnh giá 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng), có số seri: LM18689489 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu HUAWei màu xanh có số IMEI1: 862966040870247; số IMEI2: 862966040895152, có gắn số sim 0843646536 đã qua sử dụng vẫn hoạt động bình thường, nhận thấy không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án nên Cơ quan CSĐT công an thị xã Nghi Sơn ra Quyết định xử lý, trả lại toàn bộ đồ vật trên cho chị Nguyễn Thị Hoài, sinh năm 1993, trú tại thôn Bắc Sơn, xã Nghi Sơn, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa là người được D ủy quyền.
- Toàn bộ vỏ phong bì niêm phong ký hiệu M1, 02 (hai) gói giấy và 0,168g (không phẩy một sáu tám gam) chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn là mẫu vật còn lại sau giám định. Tất cả được đựng trong một phong bì niêm phong do Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, được dán kín, niêm phong bởi các chữ ký ghi rõ họ tên Nguyễn Trần Đăng, Lê Minh Tiến, Nguyễn Hiếu Trung và các hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa hiện đã chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn để chờ xử lý theo quy định của pháp luật.
Bản cáo trạng số: 162/CTr-VKSTG ngày 18/11/2020 của VKSND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Đậu Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
* Tại phiên tòa Viện kiểm sát đề nghị:
- Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo.
- Mức hình phạt mà VKS đề nghị xử phạt đối với bị cáo là từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Thời hạn từ tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (12/09/2020). Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX tịch thu tiêu hủy toàn bộ vỏ phong bì niêm phong ký hiệu M1, 02 (hai) gói giấy và 0,168g (không phẩy một sáu tám gam) loại Heroine là mẫu vật còn lại sau giám định.
- Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo là đối tượng nghiện ma túy lại không có việc làm nên đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Cơ quan Công an nay là thị xã Nghi Sơn, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà sơ thẩm công khai hôm nay, bị cáo D khai nhận: Hồi 13 giờ 15 phút ngày 12/09/2020, tại khu vực thôn H, phường M, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa, khi bị cáo đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,185g (Không phẩy một tám lăm) ma túy, loại Heroine nhằm mục đích để sử dụng thì bị Tổ công tác Đồn Công an phường M, thị xã Nghi Sơn phát hiện, bắt quả tang.
Tại phiên toà, đại diện VKSND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Do đó, HĐXX có đủ cơ sở kết luận D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xét tính chất, hành vi của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự an ninh ở địa phương, đe dọa sức khỏe và sự phát triển lành mạnh của nòi giống, cũng như ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Ma túy là hiểm họa của cộng đồng và còn là nguyên nhân làm gia tăng các loại tội phạm khác. Vì vậy cần phải có đường lối xử lý tương xứng với hành vi và hậu quả bị cáo đã gây ra để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, HĐXX thấy rằng:
Ngày 12/09/2020 do có nhu cầu sử dụng ma túy nên bị cáo đã tìm mua ma túy để sử dụng và khi chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang. Lẽ ra bị cáo phải tu dưỡng, rèn luyện mình để trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội và là tấm gương cho con của mình. Nhưng do đua đòi nên bị cáo đã bước chân vào con đường phạm tội. Do đó nghĩ cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mới đủ để cải và giáo dục bị cáo cũng như phòng răn đe và ngừa chung.
Song, khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đó là: Tiền án, tiền sự: Không; Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo. Nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ vỏ phong bì niêm phong ký hiệu M1, 02 (hai) gói giấy và 0,168g (không phẩy một sáu tám gam) loại Heroine là mẫu vật còn lại sau giám định.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 500 triệu đồng...”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định. Do đó, HĐXX quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Đậu Văn D.
- Tuyên bố: Bị cáo Đậu Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt: Đậu Văn D 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam (12/09/2020). Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy toàn bộ vỏ phong bì niêm phong ký hiệu M1, 02 (hai) gói giấy và 0,168g (không phẩy một sáu tám gam) loại Heroine là mẫu vật còn lại sau giám định.
Theo phiếu nhập kho số NK2021/17 ngày 20 tháng 11 năm 2020 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn.
- Án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 136; 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Đậu Văn D phải chịu 200.000đ án phí HSST.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, người có quyền lợi liên quan tại phiên tòa. Tuyên bố những người được quyền kháng cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thanh Hoá; - VKSND thị xã Nghi Sơn; - Công an thị xã Nghi Sơn; - Chi cục THADS thị xã Nghi Sơn; - Bị cáo; - Người có quyền lợi liên quan; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Lê Thị Hạnh |