- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Ngọc Phương U.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN M CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 156/2020/HNGĐ-ST Ngày: 03/4/2020 V/v: Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN M, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Mỹ Duyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Hoàng Sơn.
2. Bà Nguyễn Thị Như Sương.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Quốc Thiên Hương – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trương Võ Thùy Dung – Kiểm sát viên.
Ngày 03. tháng 4 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số: 595/2019/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2019 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2020/QĐXXST- HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2020/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 3 năm 2020 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trần Ngọc Phương U, sinh năm 1994; địa chỉ: Phường N, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh;
Bà U có đơn xin xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng Phi Đ, sinh năm 1990; địa chỉ: Phường N, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh;
Ông Đ vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiê ̣n nhận ngày 15/10/2019 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Trần Ngọc Phương U trình bày:
Bà Trần Ngọc Phương U và ông Nguyễn Hoàng Phi Đ là vợ chồng hợp pháp chung sống có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 42 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận cấp ngày 06/10/2017.
Trong quá trình chung sống, bà U và ông Đ phát sinh nhiều mâu thuẫn trong cuộc sống cả về kinh tế và tình cảm. Ông Đ có mối quan hệ tình cảm với nhiều cô gái khác, lại còn thường xuyên đánh đập và hành hạ bà U, ông Đ còn liên quan đến các tệ nạn xã hội, bà U đã nhiều lần khuyên can nhưng ông Đ vẫn không thay đổi. Nay bà U nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng thật sự trầm trọng, không thể hàn gắn, vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau. Bà U xác định tình cảm vợ chồng không còn nên bà U yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng Phi Đ để sớm ổn định cuộc sống.
- Về con chung: Vợ chồng chung sống không có con chung.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà U xác định trong quá trình chung sống bà U với ông Đ không có tài sản chung, không có nợ chung. Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, nợ chung.
Ngày 24/02/2020 bà Trần Ngọc Phương U có nộp Đơn xin vắng mặt tại các phiên tòa xét xử vụ án. Bà U vẫn giữ nguyên yêu cầu như trong Đơn khởi kiện và xin bảo lưu ý kiến của bà đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ kiện tại Tòa án.
* Đối với bị đơn ông Nguyễn Hoàng Phi Đ: Theo kết quả xác minh của Công an Phường 10, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 03/12/2019: “Ông Nguyễn Hoàng Phi Đ, sinh năm 1990 có lưu trú tại địa chỉ Phường N, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh…”.
Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Toà án nhân dân Quận M đã thực hiện đầy đủ thủ tục tống đạt trực tiếp, niêm yết các văn bản tố tụng hợp lệ cho ông Nguyễn Hoàng Phi Đ nhưng ông Đ không đến Toà án giải quyết. Do đó, Toà án không thể tiến hành lấy lời khai, hoà giải đối với bị đơn được. Tại phiên tòa ông Đ cũng vắng mặt không rõ lý do.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận M có ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử như sau: “Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tiến hành xét xử đúng quy định pháp luật. Về nội dung: Căn cứ vào Điều 56, Điều 81 và Điều 84 Bộ luật Hôn nhân gia đình năm 2014 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ”.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liê ̣u chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào các Biên bản lời khai đã thể hiện, Hô ̣i đồng xét xử nhâ ̣n định:
Về tố tụng :
* Về quan hê ̣ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Bà Trần Ngọc Phương U và ông Nguyễn Hoàng Phi Đ chung sống trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn, đây là hôn nhân hợp pháp. Bà U xin ly hôn với ông Đ, bị đơn có nơi cư trú tại Quận M nên Tòa án nhân dân Quận M thụ lý và giải quyết là đúng theo quy định pháp luật tại Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân năm 2015.
* Về người tham gia tố tụng:
Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn là ông Nguyễn Hoàng Phi Đ nhưng bị đơn vẫn vắng mặt tại phiên tòa không lý do, ngày 24/02/2020 nguyên đơn có Đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại Khoản 2, Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về yêu cầu của các đương sự:
* Về quan hệ hôn nhân: Xét yêu cầu ly hôn của bà Trần Ngọc Phương U:
Bà Trần Ngọc Phương U và ông Nguyễn Hoàng Phi Đ tự nguyện chung sống với nhau có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 42 đăng ký ngày 06/10/2017. Quan hệ hôn nhân giữa bà U và ông Đ là hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Theo lời khai bà U: mâu thuẫn giữa bà U và ông Đ đã phát sinh từ lâu, nguyên nhân chủ yếu cả hai bất đồng nhiều mặt trong cuộc sống cả về kinh tế và tình cảm. Mâu thuẫn kéo dài không thể giải quyết được, ông Đ không có trách nhiệm chăm lo cho gia đình và không chung thủy, thêm vào đó, ông Đ thường có hành vi đánh đập bà U. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng thực sự trầm trọng, cả hai không còn liên hệ nhau về kinh tế và tình cảm và cũng không có biện pháp gì để vợ chồng hòa giải với nhau để đoàn tụ gia đình. Sau khi thụ lý vụ án Tòa án nhiều lần tống đạt các văn bản tố tụng, thông báo cho ông Đ đến Tòa án để giải quyết vụ án nhưng ông Đ đều vắng mặt không lý do, thể hiện ông Đ không có thiện chí hòa giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của Nguyên đơn. Hội đồng xét xử căn cứ vào những nhận định nêu trên và căn cứ vào Khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hôn nhân gia đình năm 2014 đã quy định: “ khi tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không Đ được thì Tòa án giải quyết cho ly hôn” xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Trần Ngọc Phương U được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng Phi Đ.
* Về con chung: Bà U và ông Đ không có con chung.
* Về tài sản chung và nợ chung: Bà U xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ghi nhận lời khai của bà U xác định bà và ông Đ không có tài sản chung và nợ chung. Trường hợp sau này nếu các bên có tranh chấp về tài sản chung và nợ chung sẽ khởi kiện bằng vụ án khác.
Về án phí:
Về án phí dân sự sơ thẩm bà Trần Ngọc Phương U phải nộp án phí theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Khoản 4 Điều 147, Điều 227, 228, 271, 273, 278 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử :
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Ngọc Phương U.
Bà Trần Ngọc Phương U được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng Phi Đ.
2. Về con chung: Không có.
3. Về tài sản chung: Không có.
4. Về nợ chung: Không có.
5. Án phí: Bà Trần Ngọc Phương U phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí bà U đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số AA/2019/0015051 ngày 28/10/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà U đã nộp đủ án phí.
6. Về quyền kháng cáo: Bà Trần Ngọc Phương U và ông Nguyễn Hoàng Phi Đ có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND Quận M; - Chi cục THADS QUẬN M; - UBND X.T, H.H, T.Bình Thuận. - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Mỹ Duyên |