- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Nguyên đơn là bà Võ Thị T1 khởi kiện bị đơn là ông Hà Quang H1, bà Đặng Thị Kim A1"
- Tòa quyết gì? Áp d ng Khoản 2 Điều 308, Bộ luật Tố t ng dân sự, tuyên xử: Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm (lần 2) số 35/2019/DS-ST ngày 06-9-2019 của T a án nhân dân huyện X, c thể như sau:
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 289 Bộ luật Tố t ng dân sự đình ch; Điều 52 Luật Công chứng
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 156/2020/DS-PT Ngày: 02-12-2020 “V/v TCHĐ vay tài sản và yêu cầu tuyên bố HĐCNQSD đất vô hiệu” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Th Quang
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Minh Châu
Ông Trần Minh Bắc
- Thư ký phiên tòa: Bà Hồ Hạnh Nguyên – Thư T a án nhân dân t nh Bà R a – V ng Tàu.
- Đại diện Viện ki m sát nhân dân t nh Bà a – V ng Tàu: Bà Trần Th Kiều Oanh - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Trong các ngày 25 tháng 11 và ngày 02 tháng 12 năm 2020, tại Tr s T a án nhân dân t nh Bà R a – V ng Tàu xét xử phúc thẩm công hai v án th l số 146/2019/TLPT-DS ngày 02 tháng 12 năm 2019 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản và yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng nhà đất vô hiệu”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 35/2019/DSST ngày 06 tháng 9 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện X b háng cáo.
Theo các quyết đ nh: Quyết đ nh đưa v án ra xét xử số 43/2020/QĐPT-DS ngày 27-02-2020; Quyết đ nh hoãn phiên t a số 49/2020/QĐPT-DS ngày 24-3-2020, Thông báo về việc m lại phiên t a số 62/2020/TB-TA ngày 25-5-2020; Quyết đ nh hoãn phiên t a số 106/2020/QĐPT-DS ngày 23-6-2020; Quyết đ nh thay đổi người tiến hành tố t ng số 50/2020/QĐPT-DS ngày 07-7-2020; Quyết đ nh tạm ngừng phiên t a số 88/2020/QĐPT-DS ngày 08-7-2020; Quyết đ nh tạm đình ch số 06A/2020/QĐPT-DS ngày 07-8-2020, Quyết đ nh tiếp t c giải quyết v án số 06/2020/QĐ-PT ngày 10-11-2020; Thông báo về thời gian tiếp t c phiên t a số 151/2020/TB-TA ngày 11-11-2020; Quyết đ nh thay đổi người tiến hành tố t ng số 76/2020/QĐ-PT ngày 23-11-2020; giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Võ Th T1, sinh năm 1954 (có mặt).
Đ a ch : Khu phố P, th trấn P, huyện X, t nh Bà R a - V ng Tàu.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Võ Cát T2, sinh năm 1979; đ a ch liên lạc: Đường H, hu phố P, th trấn P, t nh Bà R a – V ng Tàu; là đại diện theo Giấy ủy quyền ngày 26-6-2017 (có mặt).
Người bảo về quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Phạm Quang H2 – Luật sư thuộc Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội (có mặt).
2. Bị đơn: Vợ chồng ông Hà Quang H1, sinh năm 1959, bà Đặng Th Kim A1, sinh năm 1964 (đều vắng mặt).
Cùng đ a ch : Đường H, hu phố P, th trấn P, huyện X, t nh Bà R a – V ng Tàu.
Người đại diện hợp pháp của b đơn: Ông Phạm Tô Minh Q, sinh năm 1997; đ a ch : Đường T, Phường H, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; là đại diện theo Giấy ủy quyền ngày 18-3-2020 (có mặt).
3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Đặng Qu V, sinh năm 1961 và bà Ngô Th Ánh N1, sinh năm 1964 (đều vắng mặt).
Cùng đ a ch : Ấp N, xã P, huyện T, t nh Đồng Nai.
Người đại diện hợp pháp của ông V, bà N1: Ông Phạm Minh T3; đ a ch : Đường L, Phường N, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh; là người đại diện theo Giấy ủy quyền ngày 30-7-2018 (có mặt).
3.2. Ông Nguyễn Trọng K1, sinh năm 1965 và bà Đoàn Th Hồng H3, sinh năm 1963 (đều vắng mặt).
Cùng đ a ch : Ấp T, xã P, huyện X, t nh Bà R a - V ng Tàu.
3.3. Ông Trần Đình P1, sinh năm 1972 và bà Nguyễn Th N2, sinh năm 1978 (đều vắng mặt).
Cùng đ a ch : Ấp M, xã P, huyện L, t nh Đồng Nai.
Người đại diện hợp pháp của ông P1, bà N2: Ông Đoàn Thế P2, sinh năm 1969; đ a ch : Khu phố H, phường T, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; là đại diện theo Giấy ủy quyền lập ngày 29-5-2020 (có đơn xin xét xử vắng mặt).
3.4. Ủy ban nhân dân huyện X, t nh Bà R a – V ng Tàu (vắng mặt).
Đ a ch : Quốc lộ 55, th trấn P, huyện X, t nh Bà R a – V ng Tàu.
3.5. Ông Nguyễn Phương D1 – Văn ph ng Công chứng B (vắng mặt).
Đ a ch : Ấp B, xã H, thành phố B, t nh Bà R a – V ng Tàu.
3.6. Ông Nguyễn Thành S - Văn ph ng Công chứng H (vắng mặt).
Đ a ch : Xã H, huyện X, t nh Bà R a – V ng Tàu.
4. Người làm chứng: Ông Nguyễn Đình P3 (vắng mặt).
Đ a ch : Thôn T, xã P, huyện X, t nh Bà R a - V ng Tàu.
5. Người kháng cáo: Nguyên đơn – bà Võ Th T1; b đơn – vợ chồng ông Hà Quang H1, bà Đặng Th Kim A1; người có quyền lợi và nghĩa v liên quan – vợ chồng ông Đặng Qu V, bà Ngô Th Ánh N1 và ông Trần Đình P1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nội dung v án và diễn biến quá trình tố t ng như sau:
Trong năm 2009, bà A1 vay tiền 05 lần của bà T1 tổng cộng là 3.700.000.000đ, hi vay hông thế chấp tài sản, cả 05 lần vay đều viết giấy vay tiền nhưng đều hông ghi thỏa thuận về lãi suất và thời hạn trả nợ, c thể như sau: Cùng ngày 10-7-2009, bà A1 vay tiền của bà T1 03 lần, giấy vay thứ nhất vay 1.000.000.000đ (BL 17); giấy vay thứ hai vay 600.000.000đ (BL18); giấy vay thứ ba vay 500.000.000đ (BL 19); ngày 11-7-2009, bà A1 vay bà T1 1.000.000.000đ (BL 16); ngày 17-7-2009, bà A1 vay bà T1 600.000.000đ (BL15).
Từ hi vay đến ngày 11,12-02-2010 thì bà A1 đã trả cho bà T1 600.000.000đ nợ gốc (BL 171), còn nợ lại 3.100.000.000đ.
Ngày 26-8-2010, vợ chồng bà A1, ông H1 Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất số 69 chuyển nhượng nhà đất tại số 60, 61 xã P, huyện X, t nh Bà R a – V ng Tàu cho ông V (ông V là anh ruột của bà A1) với giá ghi trong hợp đồng là 680.000.000đ (BL72-75) nhưng ông V khai là 4.000.000.000đ, c thể nhà đất vợ chồng bà A1, ông H1 chuyển nhượng cho ông V là:
- Căn nhà 300m2 gắn liền với diện tích đất 1.632m2 thuộc thửa 105, 818 tờ bản đồ số 03 tọa lạc tại số 60, xã P, huyện X được UBND huyện X cấp Giấy chứng nhận quyền s hữu nhà và quyền sử d ng đất số 777512662300184 cho bà Đặng Th Kim A1, ông Hà Quang H1 vào ngày 25-11-2009 (BL 69, 70) và Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số L 652073 ngày 12-8-1998 cho bà Trần Th D2, đã ch nh l sang tên cho bà Đặng Th Kim A1, ông Hà Quang H1 vào ngày 07-7-2009 (BL 61, 62, 63).
- Căn nhà 210m2 gắn liền với diện tích đất 500m2 thuộc thửa 617, 819 tờ bản đồ số 03 tọa lạc tại số 61, xã P, huyện X được UBND huyện X cấp Giấy chứng nhận quyền s hữu nhà và quyền sử d ng đất số 777512662300167 cho bà Đặng Th Kim A1, ông Hà Quang H1 ngày 02-10-2009 (BL 67, 68) và Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số T 227334 ngày 02-7-2001 cho bà Lưu Th Vân A2, đã ch nh l sang tên cho bà Đặng Th Kim A1, ông Hà Quang H1 ngày 23-7-2009 (BL 64, 65, 66).
Theo ông V thì sau hi nhận chuyển nhượng nhà đất của vợ chồng bà A1, ông H1 hai bên có viết giấy biên nhận giao nhận tiền và giao nhà đất (BL 72) nhưng do chưa có biểu thuế nên hông đóng thuế được, do đó ông V chưa làm thủ t c sang tên nhà đất.
Ngày 14-3-2011, bà T1 có đơn h i iện vợ chồng bà A1, ông H1 phải trả 3.100.000.000đ nợ gốc và lãi phát sinh theo quy đ nh (BL 10).
Ngày 05-4-2011, bà T1 có Đơn yêu cầu áp d ng biện pháp hẩn cấp tạm thời (BL24) đối với vợ chồng bà A1, ông H1 nên ngày 06-4-2011, Tòa án nhân dân huyện X ban hành Quyết đ nh áp d ng biện pháp hẩn cấp tạm thời số 02/2011/QĐ-BPKCTT phong tỏa nhà đất tọa lạc tại số 61, ấp T, xã P, huyện X để đảm bảo thi hành án cho bà T1 (BL 37).
Tiếp đến ngày 24-6-2011, bà T1 lại có Đơn yêu cầu áp d ng biện pháp hẩn cấp tạm thời đối với vợ chồng bà A1, ông H1 (BL39) nên ngày 27-6-2011, Tòa án nhân dân huyện X đã ban hành Quyết đ nh áp d ng biện pháp hẩn cấp tạm thời số 04/2011/QĐ-BPKCTT phong tỏa nhà đất tọa lạc tại số 60, ấp T, xã P, huyện X để đảm bảo thi hành án cho bà T1 (BL 42).
Ngày 01-7-2011, ông V có đơn yêu cầu độc lập yêu cầu công nhận Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất số 69 ngày 26-8-2010 giữa vợ chồng bà A1, ông H1 với ông V là hợp pháp (BL79, 80).
Tại Bản án dân sự sơ thẩm (lần 1) số 10/2012/DSST ngày 04-7-2012 của Tòa án nhân dân huyện X đã tuyên xử: Buộc vợ chồng bà A1, ông H1 trả cho bà T1 3.100.000.000đ và lãi suất là 862.850.000đ; Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất số 69 ngày 26-8-2010 giữa vợ chồng bà A1 ông H1 với ông V vô hiệu do giả tạo. Vợ chồng bà A1, ông H1 phải trả cho vợ chồng ông V, bà N1 4.000.000.000đ. Buộc vợ chồng ông V, bà N1 phải trả lại nhà đất đã nhận chuyển nhượng của vợ chồng bà A1, ông H1; Tiếp t c duy trì các quyết đ nh áp d ng biện pháp hẩn cấp tạm thời; Bà T1 được nhận lại các tài sản đảm bảo áp d ng biện pháp hẩn cấp tạm thời (BL 200-203).
Sau khi xét xử sơ thẩm, vợ chồng ông V, bà N1 kháng cáo.
Tại Bản án dân sự phúc thẩm (lần 1) số 56/2012/DSPT ngày 14-9-2012 của Tòa án nhân dân t nh Bà R a – V ng Tàu đã tuyên xử sửa một phần bản án sơ thẩm (lần 1) hủy bỏ các quyết đ nh áp d ng biện pháp hẩn cấp tạm thời và hủy bản án sơ thẩm về phần giải quyết tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất số 69 ngày 26-8-2010 giữa vợ chồng bà A1, ông H1 với ông V (BL 238-241).
Ngày 30-10-2012, ông V được ch nh l trang IV sang tên trong các giấy chứng nhận quyền sử d ng đất và quyền s hữu nhà đối với nhà đất tọa lạc tại số 60 và số 61, ấp T, xã P, huyện X (BL 303-306).
Ngày 26-12-2012, vợ chồng ông V, bà N1 (ủy quyền cho ông Hà Quang T5)
Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất số 1690 chuyển nhượng nhà đất tọa lạc tại số 60 cho vợ chồng ông Nguyễn Ngọc K2, bà Đào Th P4 với giá 3.000.000.000đ (BL 938-942).
Ngày 28-5-2013, vợ chồng ông V, bà N1 ký Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất số 1033 chuyển nhượng nhà đất tọa lạc tại số 61 cho ông Trần Đình P1 với giá 1.500.000.000đ (BL 340-342).
Ngày 16-6-2014, Tòa Dân sự T a án nhân dân tối cao ban hành Quyết đ nh giám đốc thẩm số 259/2014/DS-GĐT hủy một phần Bản án dân sự phúc thẩm (lần 1) số 56/2012/DSPT ngày 14-9-2012 của Tòa án nhân dân t nh Bà R a – V ng Tàu đối với phần giải quyết hủy bỏ các quyết đ nh áp d ng biện pháp hẩn cấp tạm thời và hủy bản án sơ thẩm (lần 1) về phần giải quyết tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất số 69 ngày 26-8-2010 giữa vợ chồng bà A1, ông H1 với ông V. Giao hồ sơ về lại cho T a án nhân dân t nh Bà R a – V ng Tàu xét xử lại phúc thẩm (252- 255).
Ngày 20-11-2014, T a án nhân dân t nh Bà R a – V ng Tàu ban hành Bản án dân sự phúc thẩm (lần 2) số 74/2014/DSPT hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm (lần 1) số 10/2012/DSST ngày 04-7-2012 của Tòa án nhân dân huyện X, giao hồ sơ v án lại cho T a án nhân dân huyện X giải quyết lại theo trình tự sơ thẩm (lần 2).
Ngày 15-12-2014, Tòa án nhân dân huyện X th l giải quyết lại v án theo trình tự sơ thẩm lần 2.
Cùng ngày 15-12-2014, bà T1 nộp Đơn yêu cầu áp d ng biện pháp hẩn cấp tạm thời đối với người b yêu cầu là vợ chồng bà A1, ông H1, đề ngh giữ nguyên tình trạng pháp l đối với nhà đất tọa lạc tại số 60, 61 ấp T, xã P, huyện X để đảm bảo thi hành án (BL 418-430).
Trong cùng ngày 15-12-2014, Tòa án nhân dân huyện X ban hành 02 quyết đ nh, quyết đ nh thứ nhất là Quyết đ nh buộc thực hiện biện pháp đảm bảo số 03/2014/QĐ-BPBĐ buộc bà T1 phải gửi tài sản đảm bảo có giá tr 200.000.000đ để đảm bảo đối với việc bà T1 yêu cầu áp d ng biện pháp hẩn cấp tạm thời (BL 432). Quyết đ nh thứ hai là Quyết đ nh buộc thực hiện biện pháp đảm bảo số 04/2014/QĐ-BPBĐ buộc bà T1 phải gửi 03 tài sản thuộc quyền s hữu sử d ng của bà T1 để đảm bảo đối với việc bà T1 yêu cầu áp d ng biện pháp hẩn cấp tạm thời (BL 434), 03 tài sản thuộc quyền s hữu sử d ng của bà T1 là:
- Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số T 356566 của UBND huyện X cấp cho bà T1 ngày 21-02-2003.
- Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số X 295228 của UBND huyện X cấp cho bà T1 ngày 21-8-2003.
- Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất, quyền s hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất số BA 589276 của UBND huyện X cấp cho bà T1 ngày 07-5-2010.
C ng trong ngày 15-12-2014, bà T1 đã nộp 200.000.000đ vào tài hoản tiền gửi 6002205117712 tại Agriban chi nhánh huyện X và Agribank chi nhánh huyện X đã tiến hành phong tỏa tài hoản tiền gửi 6002205117712 của bà T1 theo Quyết đ nh buộc thực hiện biện pháp đảm bảo số 03/2014/QĐ-BPBĐ ngày 15-12-2014 (BL 437).
Ngày 16-12-2014, Chi c c Thi hành án huyện X đã lập Biên Bản giao nhận, nhận 03 giấy tờ bản gốc 03 tài sản thuộc quyền s hữu sử d ng của bà T1 theo Quyết đ nh buộc thực hiện biện pháp đảm bảo số 04/2014/QĐ-BPBĐ ngày 15-12-2014 (BL 436).
Ngày 17-12-2014, Tòa án nhân dân huyện X ban hành Quyết đ nh áp d ng biện pháp hẩn cấp tạm thời số 04/2014/QĐ-BPKCTT và ngày 19-12-2014, Tòa án nhân dân huyện X ban hành Thông báo số 01/TB-TA sửa chữa, bổ sung quyết đ nh áp d ng biện pháp hẩn cấp tạm thời số 04, phong tỏa tài sản là quyền sử d ng đất thuộc thửa 105, 818, 617, 819 tờ bản đồ 03 xã P, huyện X, t nh Bà R a – V ng Tàu, đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử d ng đất cho ông Đặng Qu V (BL 449, 451).
Quá trình Tòa án nhân dân huyện X th l giải quyết lại v án theo trình tự sơ thẩm lần (2) thì các đương sự trình bày và có quan điểm như sau:
Nguyên đơn là bà Võ Thị T1 và người đại diện theo ủy quyền của bà T1 là ông T2 trình bày và có quan điểm:
Bà T1 vẫn giữ nguyên nội dung trình bày trong đơn h i iện đề ngày 10-12-2014 là yêu cầu T a án buộc bà A1 và ông H1 phải trả 3.100.000.000đ cùng lãi suất phát sinh theo quy đ nh của pháp luật.
Sau hi vay của bà T1 một số tiền lớn, bà A1 hông có động thái trả nợ cho bà T1 và có hành vi chuyển nhượng hối tài sản duy nhất này cho anh trai là ông V, toàn bộ 04 thửa đất này và tài sản trên đất bà A1 nhận chuyển nhượng của bà D2 c ng như của bà A2 đều có nguồn gốc từ số tiền vay 3.700.000.000đ của bà T1.
Quá trình Tòa án nhân dân huyện X giải quyết v án theo trình tự sơ thẩm (lần 1), bà T1 đã yêu cầu áp d ng biện pháp hẩn cấp tạm thời để ngăn chặn việc vợ chồng bà A1, ông H1 chuyển nhượng tẩu tán tài sản và Tòa án nhân dân huyện X đã chấp nhận yêu cầu của bà T1, buộc vợ chồng bà A1, ông H1 phải trả lại tiền cho ông V; ông V phải trả lại các tài sản cho vợ chồng bà A1, ông H1, nhưng Bản án phúc thẩm (lần 1) số 56/2012/DSPT ngày 14-9-2012 của T a án nhân dân t nh Bà R a – V ng Tàu đã hủy quyết đ nh áp d ng biện pháp hẩn cấp tạm thời của Tòa án nhân dân huyện X, đồng thời hủy nội dung “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử d ng đất” và đình ch giải quyết đối với phần này nên trong quá trình bà T1 hiếu nại giám đốc thẩm đối với bản án phúc thẩm (lần 1) thì vợ chồng bà A1, ông H1 đã hoàn thiện thủ t c chuyển nhượng quyền sử d ng đất và tài sản trên đất cho ông V, sau đó ông V lại chuyển nhượng tiếp cho ông P1. Như vậy hành vi chuyển nhượng của các đương sự theo hai hợp đồng nêu trên là tẩu tán tài sản nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa v trả nợ nên bà T1 có các yêu cầu:
1. Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất số 69 ngày 26-8-2010 giữa vợ chồng bà A1, ông H1 với ông V là vô hiệu đối với các tài sản đã được cấp giấy chứng nhận quyền s hữu, sử d ng tài sản là:
- Giấy chứng nhận quyền s hữu nhà và quyền sử d ng đất số 777512662300184 của UBND huyện X cấp cho vợ chồng bà Đặng Th Kim A1, ông Hà Quang H1 ngày 25-11-2009.
- Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số L 652073 của UBND huyện X cấp cho bà Trần Th D2 ngày 12-8-1998, ch nh l sang tên cho vợ chồng bà Đặng Th Kim A1, ông Hà Quang H1 ngày 07-7-2009.
- Giấy chứng nhận quyền s hữu nhà và quyền sử d ng đất số 777512662300167 của UBND huyện X cấp cho vợ chồng bà Đặng Th Kim A1, ông Hà Quang H1 ngày 02-10-2009.
- Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số T 227334 của UBND huyện X cấp cho bà Lưu Th Vân A2 ngày 02-7-2001, ch nh l sang tên cho vợ chồng bà Đặng Th Kim A1, ông Hà Quang H1 ngày 23-7-2009.
2. Yêu cầu tuyên hủy t an bộ nội dung biến động trên tất cả các giấy chứng nhận quyền sử d ng đất này từ giai đoạn của vợ chồng bà A1, ông H1 chuyển nhượng cho ông V, c thể:
- Hủy nội dung chuyển nhượng cho ông Đặng Qu V đề ngày 30-10-2012 theo sự xác nhận tại phần VI của Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số T 227334 cấp ngày 02-7-2001 cho bà Lưu Th Vân A2 do Văn ph ng đăng quyền sử d ng đất huyện X thực hiện;
- Hủy nội dung chuyển nhượng cho ông Đặng Qu V đề ngày 30-10-2012 theo sự xác nhận tại trang bổ sung số 02 của Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số L 652073 cấp ngày 12-8-1998 cho bà Trần Th D2 do Văn ph ng đăng quyền sử d ng đất huyện X thực hiện;
- Hủy nội dung chuyển nhượng quyền s hữu nhà cho ông Đặng Qu V theo sự xác nhận phần IV ngày 30-10-2012 của giấy chứng nhận quyền s hữu nhà số 777512662300167 cho bà Đặng Th Kim A1 và ông Hà Quang H1 vào ngày 02-10-2009, do Văn ph ng đăng quyền sử d ng đất huyện X thực hiện.
- Hủy nội dung chuyển nhượng quyền s hữu nhà cho ông Đặng Qu V theo sự xác nhận phần IV ngày 30-10-2012 của cấp giấy chứng nhận quyền s hữu nhà số 777512662300184 cho bà Đặng Th Kim A1 và ông Hà Quang H1 vào ngày 25-11-2009, do Văn ph ng đăng quyền sử d ng đất huyện X thực hiện.
3. Yêu cầu tuyên Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất số 1033 ngày 28-5-2013 được
ết giữa vợ chồng ông V, bà N1 với ông P1 vô hiệu vì đối tượng của hợp đồng này c ng chính là những tài sản được liệt ê tương ứng với Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất số 69 ngày 26-8-2010 giữa vợ chồng bà A1, ông H1 với ông V.
Bị đơn là vợ chồng bà Đặng Thị Kim A1, ông Hà Quang H1 và người đại diện theo ủy quyền là ông Lê T4 trình bày:
Bà A1 xác nhận có vay tiền 05 lần của bà T1 tổng cộng là 3.700.000.000đ theo các giấy vay tiền mà bà T1 cung cấp cho T a án, tuy hông xác đ nh thời hạn trả nợ nhưng thỏa thuận miệng của các bên là 10 năm, lãi suất là 7,5%/tháng. Bà A1 đã thanh toán cho bà T1 02 tháng tiền lãi, sau một thời gian thì bà A1 đã trả cho bà T1 600.000.000đ và c n nợ lại 3.100.000.000đ. M c đích vay nợ là để trả nợ cho người hác, vì vậy bà A1 đồng trả nợ cho bà T1 3.100.000.000đ và lãi suất phát sinh. Đối với các yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng nhà đất và yêu cầu hủy các ết quả chuyển nhượng thì bà A1 hông đồng .
Còn ông H1 trình bày ông là chồng của bà A1, việc bà A1 vay mượn tiền của bà T1 như thế nào ông hông biết nên ông hông có trách nhiệm. Ông H1 hông đồng các yêu cầu của bà T1 liên quan đến hai hợp đồng chuyển nhượng nhà đất của ông và bà A1 với ông V và giữa ông V với ông P1.
Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1. Vợ chồng ông V, bà N1 và người đại diện theo ủy quyền là ông T3 trình bày:
Vợ chồng bà A1, ông H1 đã ký Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất số 69 ngày 26-8-2010 chuyển nhượng nhà đất tọa lạc tại số 60, 61 ấp T, xã P, huyện X cho ông V. Sau đó vợ chồng ông V đã Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất số 1033 ngày 28-5-2013 chuyển nhượng nhà đất tọa lạc tại số 61 ấp T, xã P, huyện X cho ông P1. Nay vợ chồng ông V, bà N1 đề ngh T a án công nhận Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất số 69 ngày 26-8-2010 mà ông V đã với vợ chồng bà A1, ông H1 và đề ngh T a án công nhận Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất số 1033 ngày 28-5-2013 được
ết giữa vợ chồng ông V, bà N1 với ông P1.
2. Vợ chồng ông P1, bà N2 và người đại diện theo ủy quyền là ông Y trình bày:
Vợ chồng ông P1, bà N2 hông đồng yêu cầu hủy Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất số 1033 ngày 28-5-2013; đề ngh T a án công nhận Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất số 69 ngày 26-8-2010 vì theo quy đ nh của pháp luật thì hợp đồng này có hiệu lực pháp luật tại thời điểm công chứng, các đương sự chưa hủy bỏ, hông có bản án quyết đ nh của cơ quan pháp luật tuyên bố hủy bỏ; đề ngh T a án đưa Văn ph ng Công chứng B và Văn ph ng Công chứng H tham gia tố t ng.
Vợ chồng ông P1, bà N2 hiện nay đã nhận nhà và đã cho thuê lại nhưng cho ai thuê và thuê từ thời điểm nào thì ông Y hông biết.
3. Văn phòng Công chứng H ông Nguyễn Thành S có ý kiến tại Văn bản số 11/CV-VPCC đề ngày 07-11-2018 như sau:
Tại thời điểm công chứng Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất số 69 ngày 26-8-2010 tại Văn ph ng Công chứng H, các bên giao d ch có đầy đủ năng lực hành vi dân sự theo quy đ nh của pháp luật, nội dung thỏa thuận hông vi phạm điều cấm của pháp luật và hông trái đạo đức xã hội, tài sản trong hợp đồng hông có tranh chấp, hông b ê biên c ng như áp d ng các biện pháp ngăn chặn, như vậy nội dung, hình thức của hợp đồng phù hợp với quy đ nh của pháp luật, nên việc nguyên đơn yêu cầu tuyên bố vô hiệu là hông có căn cứ.
4. Ông Nguyễn Trọng K1 và bà Đoàn Thị Hồng H3 trình bày tại biên bản lấy lời khai ngày 11-5-2012 như sau:
Theo Sơ đồ v trí ngày 19-4-2012 do Chi nhánh Văn ph ng Đăng đất đai chi nhánh huyện X lập thì hi đo đạc các đương sự đã ch ranh lấn sang thửa đất của ông 10m2 thì phần diện tích này ông bà cho vợ chồng ông V bà N1, ông bà không có tranh chấp và có iến gì.
5. Ủy ban nhân dân huyện X và Văn phòng Công chứng B: Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt hông có l do.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm (lần 2) số 35/2019/DS-ST ngày 06-9-2019 của Tòa án nhân dân huyện X áp d ng các Điều 26, 35, 227, 228 Bộ luật Tố t ng dân sự; các Điều 129, 137, 305, 411, 471, 474, 476, 692, 697, 698 Bộ luật dân sự năm 2005; các Điều 5, 50, 107, 109 Luật Đất đai năm 2003; hoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 26, Điều 27 Pháp lệnh án phí lệ phí Tòa án, Tuyên xử:
[1] Chấp nhận yêu cầu h i iện của bà T1 đối với vợ chồng bà A1 ông H1. Buộc vợ chồng bà A1, ông H1 phải hoàn trả cho bà T1 5.965.450.000đ, trong đó gồm 3.100.000.000đ tiền gốc và 2.865.450.000đ tiền lãi.
[2] Chấp nhận yêu cầu h i iện của bà T1 về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng nhà đất vô hiệu”, tuyên xử:
- Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất số 69 ngày 26-8-2010 giữa bà Đặng Th Kim A1 và ông Hà Quang H1 với ông Đặng Qu V vô hiệu.
Giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu về phần thủ t c hành chính trong dân sự, tuyên:
Hủy nội dung chuyển nhượng đối với thửa đất 617 và 991 (thửa c 819) tờ bản đồ số 03 xã P, huyện X của ông Hà Quang H1 và bà Đặng Th Kim A1 cho ông Đặng Qu V đề ngày 30-10-2012 theo sự xác nhận tại phần VI của Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số T 227334 cấp ngày 02-7-2001 cho bà Lưu Th Vân A2 do Văn ph ng đăng quyền sử d ng đất huyện X thực hiện;
Hủy nội dung chuyển nhượng đối với thửa đất số 105, 818 tờ bản đồ số 03 xã P của Bà Đặng Th Kim A1 và ông Hà Quang H1 cho ông Đặng Qu V đề ngày 30-10-2012 theo sự xác nhận tại trang bổ sung số 02 của Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số L 652073 cấp ngày 12-8-1998 cho bà Trần Th D2 do Văn ph ng đăng quyền sử d ng đất huyện X thực hiện;
Hủy nội dung chuyển nhượng quyền s hữu nhà của bà Đặng Th Kim A1 và ông Hà Quang H1 cho ông Đặng Qu V theo sự xác nhận m c IV ngày 30-10-2012 của giấy chứng nhận quyền s hữu nhà số 777512662300167 vào ngày 02-10-2009, do Văn ph ng đăng quyền sử d ng đất huyện X thực hiện;
Hủy nội dung chuyển nhượng quyền s hữu nhà của bà Đặng Th Kim A1 và ông Hà Quang H1 cho ông Đặng Qu V theo sự xác nhận phần IV ngày 30-10-2012 của Giấy chứng nhận quyền s hữu nhà số 777512662300184 vào ngày 25-11-2009, do Văn ph ng đăng quyền sử d ng đất huyện X thực hiện.
- Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất số 1033 ngày 28-5-2013 giữa ông Đặng Qu V và bà Ngô Th Ánh N1 với ông Trần Đình P1 vô hiệu.
Phần dân sự trong hai hợp đồng chuyển nhượng quyền sử d ng đất b tuyên vô hiệu nêu trên, giành cho các bên tham gia hợp đồng quyền h i iện v án hác nếu có tranh chấp.
Ngoài ra án sơ thẩm c n tuyên về lãi suất chậm trả, chi phí đo đất đ nh giá, án phí, quyền háng cáo và thời hạn thi hành án theo quy đ nh của pháp luật.
Ngày 19-9-2019 nguyên đơn bà T1 và ngày 20-9-2019 người đại diện theo ủy quyền của bà T1 là ông T2 có đơn kháng cáo một phần Bản án dân sự sơ thẩm lần (2) số 35/2019/DS-ST ngày 06-9-2019 của Tòa án nhân dân huyện X, yêu cầu T a án cấp phúc thẩm bổ sung nội dung duy trì Quyết đ nh áp d ng biện pháp hẩn cấp tạm thời số 04/2014/QĐ-BPBĐ ngày 15-12-2014của Tòa án nhân dân huyện X vào phần quyết đ nh của bản án để đảm bảo thi hành án (BL 851, 853
- 854).
Ngày 21-9-2019, ông T4 (đại diện theo ủy quyền của vợ chồng bà A1, ông H1) có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm lần (2) số 35/2019/DS-ST ngày 06-9-2019 của T a án nhân dân huyện X. Yêu cầu T a án cấp phúc thẩm hủy phần quyết đ nh của Bản án dân sự sơ thẩm lần (2) số 35/2019/DS-ST ngày 06-9-2019 của T a án nhân dân huyện X về việc chấp nhận yêu cầu h i iện của bà T1 tuyên Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất số 69 ngày 26-8-2010 là vô hiệu (BL 862-864), với l do:
- Bà T1 cho bà A1 vay tiền hông thỏa thuận thời hạn trả nợ; không có tài sản bảo đảm hay thế chấp; Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất số 69 ngày 26-8-2010 tuân thủ đúng hình thức, nội dung, đối tượng giao d ch hông có tranh chấp, hông trái đạo đức, điều cấm; tại thời điểm chuyển nhượng bà T1 c ng chưa thực hiện việc đ i nợ hay h i iện v án tại T a án; tài sản bà A1 chuyển nhượng hông phải là tài sản thế chấp hay đảm bảo số tiền vay của bà T1.
- Theo Điều 52 Luật Công chứng 2014 thì bà T1 hông có quyền yêu cầu T a án xem xét tính vô hiệu của Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất số 69 ngày 26-8-2010.
- T a án sơ thẩm cho rằng bà A1 dùng số tiền 3.700.000.000đ đã vay của bà T1 để thanh toán tiền mua nhà đất cho bà D2 và bà A2 là hông có căn cứ.
- Tòa án cấp sơ thẩm hông có cơ s hi cho rằng tại thời điểm bà A1 chuyển nhượng quyền sử d ng đất theo Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất số 69 ngày 26-8-2010 thì đây là tài sản duy nhất của bà A1. Vì trong nội dung bản án thì bà A1 c n một giấy chứng nhận quyền sử d ng đất tại Bình Dương mà bà A1 và bà T1 hông thỏa thuận được giá trong quá trình trả nợ. Ngoài ra tại thời điểm này bà A1 c n có tài sản là quyền sử d ng thửa đất số 154 tờ 04 theo Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số Đ 068918 do UBND huyện X cấp ngày 26-7-2006; thửa đất số 168 tờ 30 theo Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số AC 659505 do UBND huyện X cấp ngày 15-6-2005; thửa đất số 31 tờ 30 theo Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số V 119290 do UBND huyện X cấp ngày 19-3-2003. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm ết luận bà A1 tẩu tán tài sản để tuyên Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất số 69 ngày 26-8-2010 vô hiệu là hông có cơ s và thiếu căn cứ.
Ngày 21-9-2019, ông T3 đại diện theo ủy quyền của vợ chồng ông V bà N1 có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm lần (2) số 35/2019/DS-ST ngày 06-9-2019 của T a án nhân dân huyện X. Yêu cầu T a án cấp phúc thẩm hủy Bản án dân sự sơ thẩm lần (2) số 35/2019/DS-ST ngày 06-9-2019 (BL 842-843), với l do: Bản án sơ thẩm lần (2) tuyên án hông đúng sự thật hách quan v án, vi phạm nghiêm trọng th t c tố t ng, có sai lầm trong việc áp d ng pháp luật dẫn đến ra bản án hông đúng quy đ nh pháp luật nên gây thiệt hại nghiêm trọng đến quyền và lợi ích chính đáng của vợ chồng ông V, bà N1. C thể:
- Ngày 12-11-2018, ông nhận được Quyết đ nh hoãn phiên t a số 64/2018/QĐST-DS ngày 09-11-2018 của Tòa án nhân dân huyện X nên đã làm đơn xin tạm hoãn phiên t a dự iến vào ngày 26-11-2018. Sau đó ông hông nhận được giấy triệu tập tham gia phiên t a vào ngày 06-9-2019 nên ông không thực hiện được quyền tham gia tố t ng tại phiên t a sơ thẩm ngày 06-9-2019.
- Ngày 30-7-2018, ông T3 đại diện ủy quyền của vợ chồng ông V bà N1 nộp đơn yêu cầu độc lập nhưng Thẩm phán Ngọ Văn T6 hông chấp nhận đơn yêu cầu độc lập của vợ chồng ông V bà N1 là vi phạm nghiêm trọng thủ t c tố t ng.
- Bản án dân sự sơ thẩm lần (2) số 35/2019/DS-ST ngày 06-9-2019 của Tòa án nhân dân huyện X cho rằng Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất số 69 26-8-2010 đối với 02 nhà đất giữa vợ chồng bà A1 ông H1 với ông V là giả tạo là suy diễn và hông có căn cứ pháp luật.
- Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất số 69 ngày 26-8-2010 là đúng trình tự thủ t c, ngay tình và hợp pháp theo quy đ nh của pháp luật. Việc mua bán nhà đất giữa ông V với vợ chồng bà A1, ông H1 diễn ra từ ngày 26-8-2010, sau 07 tháng thì bà T1 mới h i iện bà A1 vào ngày 24-3-2011. Đến ngày 06-4-2011, Tòa án nhân dân huyện X mới ra Quyết đ nh áp d ng biện pháp hẩn cấp tạm thời số 02/2011/QĐ-BPKCTT ngăn chặn việc ông V, bà N1 cập nhật sang tên quyền s hữu nhà và quyền s hữu đất là hông đúng quy đ nh tại hoản 5 Điều 93 Luật Nhà .
- T a án cấp sơ thẩm hông bảo vệ người thứ ba ngay tình là ông V, bà N1 theo quy đ nh tại hoản 2, 3 Điều 133 Bộ luật Dân sự 2015. Vì ngày 30-10-2012, ông V đã được UBND huyện X cập nhật sang tên cho ông V 04 giấy chứng nhận quyền sử d ng đất quyền s hữu nhà .
Ngày 24-9-2019, ông P1 có đơn kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm (lần 2) số 35/2019/DS-ST ngày 06-9-2019 của T a án nhân dân huyện X. Yêu cầu T a án cấp phúc thẩm hủy Bản án dân sự sơ thẩm (lần 2) số 35/2019/DS-ST ngày 06-9-2019, với l do, bản án sơ thẩm (lần 2) tuyên án hông đúng sự thật hách quan, có sai lầm trong việc áp d ng pháp luật và vi phạm nghiêm trọng th t c tố t ng gây thiệt hại nghiêm trọng đến quyền và lợi ích chính đáng của ông P1, c thể:
- Ông P1 hợp đồng nhận chuyển nhượng nhà đất từ vợ chồng ông V bà N1 vào ngày 28-5-2013 là hoàn toàn đúng trình tự thủ t c và hợp pháp theo quy đ nh của Luật Đất đai và Luật Nhà .
- Sau khi ông P1 nhận chuyển nhượng nhà đất số 61 thôn T, xã P, huyện X thì ông P1 đã hợp đồng cho ông Nguyễn Đình P3 thuê nhà đất này từ ngày 05-7-2013 đến nay, nhưng T a án cấp sơ thẩm hông đưa ông P3 vào tham gia tố t ng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa v liên quan trong v án là vi phạm nghiêm trọng thủ t c tố t ng.
- Ngày 24-7-2018, ông P1 nộp đơn yêu cầu độc lập theo quy đ nh tại Điều 201 Bộ luật Tố t ng dân sự 2015 nhưng Thẩm phán Ngọ Văn T6 đã hông nhận đơn yêu cầu độc lập của ông P1 là vi phạm nghiêm trọng thủ t c tố t ng, ảnh hư ng đến quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của ông.
Trong quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm:
Văn phòng Công chứng B thông qua người đại diện là ông Nguyễn Phương D1 có văn bản ý kiến:
Đối với yêu cầu hủy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử d ng đất số 1033 ngày 28-5-2013 giữa ông Đặng Qu V và bà Ngô Th Ánh N1 với ông Trần Đình P1: Khi công chứng hợp đồng trên, Văn ph ng Công chứng B đã tuân thủ đầy đủ các quy đ nh của pháp luật. Tại thời điểm công chứng, các bên tham gia giao d ch có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự, nội dung và hình thức của hợp đồng hông vi phạm pháp luật và hông trái đạo đức xã hội; Văn ph ng Công chứng B không nhận được bất ỳ sự tranh chấp, ngăn chặn hoặc phong tỏa gì đối với quyền sử d ng đất trên. Đề ngh T a án xem xét giải quyết vắng mặt Văn ph ng Công chứng B.
Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 08-7-2020:
Ông Q đại diện theo ủy quyền của vợ chồng bà A1, ông H1 cho biết các tài sản của vợ chồng bà A1, ông H1 liệt ê trong đơn háng cáo đều đang thế chấp tại Ngân hàng.
Ông T2 (đại diện theo ủy quyền của bà T1), ông Q (đại diện theo ủy quyền của vợ chồng bà A1, ông H1) và ông T3 (đại diện theo ủy quyền của vợ chồng ông V, bà N1) thống nhất hoãn phiên tòa để tiến hành thẩm đ nh đ nh giá giá tr tài sản b phong tỏa đảm bảo thi hành án cho bà T1 làm căn cứ giải quyết v án.
Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 25-11-2020:
- Bà T1 và ông T2 (đại diện theo ủy quyền của bà T1) xin rút đơn háng cáo; Luật sư H2 (người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho vợ chồng bà T1), ông T2 (đại diện theo ủy quyền của bà T1) cho rằng vợ chồng bà A1, ông H1 nợ tiền bà T1 hông trả và có dấu hiệu tẩu tán tài sản nên đề ngh Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Ông Q đại diện theo ủy quyền của vợ chồng bà A1, ông H1 trình bày và có quan điểm: Việc chuyển nhượng nhà đất giữa vợ chồng bà A1, ông H1 với ông V là ngay tình hợp pháp, thủ t c chuyển nhượng đã hoàn tất nhưng án sơ thẩm tuyên vô hiệu là hông hợp l nên đề ngh Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng hông chấp nhận yêu cầu của bà T1 về việc hủy hợp đồng chuyển nhượng nhà đất giữa vợ chồng bà A1, ông H1 với ông V.
- Ông T3 đại diện theo ủy quyền của vợ chồng ông V, bà N1 trình bày và có quan điểm: Nhà đất tọa lạc tại số 60, 61 ấp T, xã P, huyện X hông phải là tài sản đảm bảo nợ vay của bà T1; hông có chứng cứ chứng minh việc vợ chồng bà A1, ông H1 chuyển nhượng nhà đất ông V là tẩu tán tài sản nên nhận đ nh của Bản án sơ thẩm là suy diễn và hông có căn cứ; ông V nhận chuyển nhượng nhà đất từ vợ chồng bà A1, ông H1 là đúng quy đ nh pháp luật và đã trả đủ 4.000.000.000đ cho vợ chồng bà A1, ông H1; án sơ thẩm hủy việc chuyển nhượng nhà đất và hủy ết quả cập nhật của việc chuyển nhượng nhà đất là hông đúng và hông bảo vệ người thứ ba ngay tình, do đó đề ngh Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bỏ quyết đ nh áp d ng biện pháp hẩn cấp tạm thời số 04; sửa bản án sơ thẩm; hông chấp nhận yêu cầu của bà T1 yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng nhà đất giữa vợ chồng bà A1, ông H1 với ông V và giữa vợ chồng ông V, bà N1 với ông P1; công nhận tất cả các hợp đồng chuyển nhượng nhà đất tọa lạc tại số 60, 61 ấp T, xã P, huyện X giữa các bên chuyển nhượng; việc tồn tại căn nhà giữa hai diện tích đất 60, 61 sẽ do các bên có liên quan tự giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có quan điểm:
Về tố t ng: Những người tiến hành tố t ng và tham gia tố t ng thực hiện đúng quy đ nh của pháp luật.
Về các nội dung kháng cáo của các đương sự có háng cáo:
- Kháng cáo của bà T1 và ông T2 đại diện theo ủy quyền của bà T1: Tại phiên tòa phúc thẩm, bà T1 và ông T2 (đại diện theo ủy quyền của bà T1) rút đơn kháng cáo, nên đề ngh Hội đồng xét xử phúc thẩm áp d ng Điểm c, Khoản 1, Điều 289 Bộ luật Tố t ng dân sự đình ch xét xử phúc thẩm đối với háng cáo của bà T1 và ông T2 (đại diện theo ủy quyền của bà T1).
- Kháng cáo của ông P1: Căn cứ vào biên bản làm việc với ông P3 thì việc hông đưa ông P3 vào tham gia tố t ng là hông ảnh hư ng đến ông P1 nên án sơ thẩm hông vi phạm tố t ng; do ông P1 đã được T a án cấp sơ thẩm hướng dẫn làm lại đơn yêu cầu độc lập nhưng hông thực hiện nên háng cáo của ông P1 hông có căn cứ.
- Kháng cáo của ông T3 đại diện theo ủy quyền của vợ chồng ông V, bà N1: Căn cứ vào các biên bản tống đạt các văn bản tố t ng của T a án cấp sơ thẩm thì việc ông T3 háng cáo T a án cấp sơ thẩm vi phạm tố t ng hi xét xử vắng mặt ông là hông đúng; T a án cấp sơ thẩm đã có quyết đ nh giải quyết hiếu nại về việc hông th l yêu cầu độc lập của vợ chồng ông V, bà N1 nhưng vợ chồng ông V, bà N1 hông hiếu nại tiếp theo.
- Bà A1 vay tiền của bà T1 hông có tài sản thế chấp; bà A1 hông trả số nợ c n lại 3.100.000.000đ cho bà T1 mà chuyển nhượng nhà đất là tài sản duy nhất c n lại cho ông V (là anh ruột của bà A1) với giá 4.000.000.000đ lại hông trả nợ cho bà T1 như đã cam ết tại cơ quan Công an; giá tr chuyển nhượng nhà đất hông phù hợp với thực tế nên có căn cứ xác đ nh việc chuyển nhượng nhà đất là giả tạo như án sơ thẩm c ng như quyết đ nh giám đốc thẩm đã nhận đ nh, do đó hợp đồng chuyển nhượng nhà đất giữa vợ chồng bà A1, ông H1 với ông V là vô hiệu, nên hợp đồng chuyển nhượng nhà đất giữa vợ chồng ông V, bà N1 với ông P1 c ng vô hiệu theo.
- Vì vợ chồng ông V, bà N1 đã chuyển nhượng lại nhà đất tọa lạc tại số 60, 61 ấp T, xã P, huyện X cho vợ chồng ông K2, bà P4 và ông P1 nhưng hi T a án cấp sơ thẩm ban hành quyết đ nh áp d ng biện pháp hẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản đối với hai tài sản này lại hông đưa vợ chồng ông K2, bà P4 vào tham gia tố t ng và chưa xem xét quyền lợi của ông K2, bà P4 và ông P1 liên quan đến căn nhà nằm giữa hai thửa đất là có thiếu sót về tố t ng, hó hăn cho việc thi hành án.
Đề ngh Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy toàn bộ bản án sơ thẩm, giao hồ sơ về lại cho Tòa án nhân dân huyện X giải quyết lại v án theo trình tự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau hi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ v án đã được thẩm tra tại phiên t a, trên cơ s tranh luận, iến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận đ nh về các nội dung háng cáo của các đương sự có háng cáo trong v án như sau:
[I] Đối với kháng cáo của bà T1 và ông T2 (đại diện theo ủy quyền của bà T1) yêu cầu bổ sung nội dung “tiếp tục duy trì Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 04/2014/QĐ-BPBĐ ngày 15-12-2014” trong phần quyết định của bản án:
Tại phiên t a phúc thẩm lần (3), bà T1 và ông T2 (đại diện theo ủy quyền của bà T1) tự nguyện rút toàn bộ háng cáo đối với Bản án dân sự sơ thẩm (lần 2) số 35/2019/DS-ST ngày 06-9-2019 của T a án nhân dân huyện X, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm thống nhất với quan điểm của Đại diện Viện iểm sát nhân dân t nh Bà R a – V ng Tàu áp d ng Điểm c Khoản 1 Điều 289 Bộ luật Tố t ng dân sự đình ch xét xử phúc thẩm đối với háng cáo của bà T1 và ông T2 (đại diện theo ủy quyền của bà T1).
[II] Xét kháng cáo của ông T4 (đại diện theo ủy quyền của vợ chồng bà A1, ông H1) cho rằng bà T1 không có quyền yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng nhà đất:
Căn cứ vào quy đ nh của pháp luật và nội dung háng cáo này của ông T4 cho thấy cách hiểu của ông T4 là hông đúng tinh thần điều luật (Điều 52 Luật Công chứng 2014) vì bà T1 hông yêu cầu hủy hành vi công chứng trái pháp luật mà yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng nhà đất để đảm bảo thi hành án cho bà T1.
[III] Xét kháng cáo của ông T3 (đại diện theo ủy quyền của vợ chồng ông V, bà N1) cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng:
Đối với việc Tòa án cấp sơ thẩm xét xử vắng mặt ông T3:
Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện, sau hi th l giải quyết lại v án theo trình tự sơ thẩm (lần 2) thì ngày 22-10-2018 Tòa án nhân dân huyện X ban hành quyết đ nh đưa v án ra xét xử vào ngày 09-11-2018 (BL694). Tuy nhiên sau 04 lần hoãn phiên tòa (BL 702, 722, 753, 773) thì ngày 06-9-2019, Tòa án nhân dân huyện X mới xét xử được v án với có sự có mặt duy nhất của bà T1, c n toàn bộ các đương sự hác đều vắng mặt, trong hi trước đó Tòa án nhân dân huyện X đã tống đạt hợp lệ Quyết đ nh hoãn phiên t a (lần 3) số 17/2019/QĐDS-ST cho ông T3 do bà H4 nhận (BL 745); Quyết đ nh hoãn phiên t a (lần 4) số 20/2019/QĐDS-ST theo hai đ a ch cho ông T3 do bà Trần Th Lệ X (BL 765) và bà Nguyễn Th M cùng nhận (BL 766), do đó Tòa án nhân dân huyện X xét xử vắng mặt ông T3 là phù hợp theo quy đ nh của pháp luật.
Đối với việc Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận đơn yêu cầu độc lập của vợ chồng ông V, bà N1:
Quá trình Tòa án nhân dân huyện X th l giải quyết lại v án theo trình tự sơ thẩm (lần 2) thì ngày 27-9-2018 vợ chồng ông V, bà N1 có Đơn yêu cầu độc lập (BL 679) nội dung: Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất số 69 ngày 26-8-2010 giữa vợ chồng bà A1, ông H1 với ông V và Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất số 1033 ngày 28-5-2013 giữa vợ chồng Vượng, bà N1 với ông P1 là hợp pháp nên đề ngh T a án cấp sơ thẩm (lần 2) hông chấp nhận yêu cầu của bà T1 hủy 02 hợp đồng chuyển nhượng nhà đất này; đề ngh hủy bỏ Quyết đ nh áp d ng biện pháp hẩn cấp tạm thời số 04/2014/QĐ-BPKCTT ngày 17-12-2014.
Ngày 10-10-2018, Chánh án Tòa án nhân dân huyện X ban hành Quyết đ nh giải quyết hiếu nại, giải quyết đơn hiếu nại của ông T3 về việc Tòa án nhân dân huyện X hông chấp nhận đơn yêu cầu độc lập của vợ chồng ông V, bà N1 (BL 680) với nội dung: Đơn yêu cầu của vợ chồng ông V, bà N1 thực chất là iến phản bác lại yêu cầu h i iện của bà T1. Đồng thời tại Điều 2 của quyết đ nh giải quyết hiếu nại ghi rõ trong thời hạn 05 ngày làm việc ể từ ngày người hiếu nại nhận được quyết đ nh giải quyết hiếu nại, nếu hông đồng thì người hiếu nại có quyền hiếu nại đến Chánh án T a án nhân dân t nh Bà R a – V ng Tàu xem xét giải quyết theo quy đ nh của pháp luật, tuy nhiên sau đó ông T3 hông thực hiện quyền hiếu nại tiếp theo của mình, điều đó chứng tỏ ông T3 đã chấp nhận quyết đ nh giải quyết hiếu nại của Chánh án T a án nhân dân huyện X.
Từ các l do trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm lần (3) thống nhất với quan điểm của Đại diện Viện iểm sát nhân dân t nh Bà R a – V ng Tàu, hông chấp nhận phần háng cáo về tố t ng của ông T3 (đại diện theo ủy quyền của vợ chồng ông V, bà N1).
[IV] Xét kháng cáo của ông P1 cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thụ tục tố tụng:
Việc Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận đơn yêu cầu độc lập của ông P1:
Ngày 24-7-2018 ông P1 có “Đơn yêu cầu độc lập” (BL 650) với nội dung: Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất số 69 ngày 26-8-2010 giữa vợ chồng bà A1, ông H1 với ông V và Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất số 1033 ngày 28-5-2013 giữa vợ chồng ông V, bà N1 với ông P1 là hợp pháp nên đề ngh T a án cấp sơ thẩm (lần 2) hông chấp nhận yêu cầu của bà T1 hủy 02 hợp đồng chuyển nhượng nhà đất này; đề ngh hủy bỏ Quyết đ nh áp d ng biện pháp hẩn cấp tạm thời số 04/2014/QĐ-BPKCTT ngày 17-12-2014. Tuy nhiên, khi T a án cấp sơ thẩm không th l yêu cầu độc lập của ông P1 vì cho rằng thực chất đơn của ông P1 là sự trình bày quan điểm (giống ông V) nhưng ông P1 hông hiếu nại, do đó Hội đồng xét xử phúc thẩm (lần 3) hông thể thỏa mãn phần háng cáo này của ông P1 tại giai đoạn giải quyết phúc thẩm.
Tòa án cấp sơ thẩm xác định thiếu người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án:
Ông P1 cho rằng sau hi nhận chuyển nhượng nhà đất số 61 thôn T, xã P, huyện X từ vợ chồng ông V, bà N1 thì ông P1 đã hợp đồng cho ông Nguyễn Đình P3 thuê nhà đất này từ ngày 05-7-2013 đến nay nhưng Tòa án nhân dân huyện X hông đưa ông P3 vào tham gia tố t ng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa v liên quan trong v án là vi phạm nghiêm trọng thủ t c tố t ng. Tuy nhiên căn cứ vào các chứng cứ tại các bút l c 590, 604, 606, 608, 609, 610 thể hiện quá trình giải quyết v án, mặc dù đã được Tòa án nhân dân huyện X tống đạt hợp lệ các văn bản của T a án cho các đương sự trong đó có vợ chồng ông P1, bà N2 nhưng vợ chồng ông P1, bà N2 hông hợp tác và đều vắng mặt, do đó Tòa án nhân dân huyện X hông thể tiến hành thẩm đ nh, đ nh giá tài sản và phải tiến hành thủ t c xét xử vắng mặt vợ chồng ông P1, bà N2. Mặt hác, quá trình giải quyết v án vợ chồng ông P1, bà N2 c ng hông trình bày và cung cấp chứng cứ thể hiện ông P3 là người thuê nhà đất, ch sau hi xét xử sơ thẩm thì vợ chồng ông P1, bà N2 mới háng cáo và cung cấp các chứng cứ phô tô (BL 829 – 834) cho rằng ông P3 là người đang thuê nhà đất từ ông P1, do đó T a án cấp sơ thẩm hông thể có căn cứ để xác đ nh ông P3 thực sự là người thuê nhà đất từ ông P1 để đưa ông P3 và tham gia tố t ng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa v liên quan.
Quá trình chuẩn b xét xử phúc thẩm, T a án cấp phúc thẩm đã niêm yết hợp lệ quyết đ nh đưa v án ra xét xử và giấy triệu tập ông P3 lên làm việc 04 lần (BL 952-954, 1031-1039) nhưng ông P3 vẫn vắng mặt, ch hi T a án cấp phúc thẩm tiến hành thẩm đ nh, đ nh giá tài sản thì mới xuất hiện sự có mặt của ông P3, nên nội dung háng cáo này của ông P1 là hông thuộc về lỗi chủ quan của T a án cấp sơ thẩm.
Từ các l do trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm lần (3) thống nhất với quan điểm của Đại diện Viện iểm sát nhân dân t nh Bà R a – V ng Tàu, hông chấp nhận phần háng cáo về tố t ng của ông P1.
[V] Xét kháng cáo của ông T4 (đại diện theo ủy quyền của vợ chồng bà A1, ông H1), kháng cáo của ông T3 (đại diện theo ủy quyền của vợ chồng ông V, bà N1), kháng cáo của ông P1 liên quan đến việc chuyển nhượng nhà đất số 60, 61 thôn T, xã P, huyện X bị bà T1 yêu cầu hủy và hiện đang bị phong tỏa để đảm bảo thi hành án cho bà T1:
Xét thấy, trong v án có 02 quan hệ tranh chấp là tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” và “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng nhà đất vô hiệu”.
Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ và yêu cầu h i iện của bà T1 thể hiện: Việc bà T1 h i iện tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” đối với vợ chồng bà A1, ông H1 là quan hệ tranh chấp gốc. Còn việc bà T1 h i iện yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng nhà đất số 60, 61 thôn T, xã P, huyện X giữa vợ chồng bà A1, ông H1 với ông V và giữa vợ chồng ông V, bà N1 với ông P1 để đảm bảo thi hành án cho bà T1 là quan hệ tranh chấp b ph thuộc.
Về quan hệ tranh chấp gốc là hợp đồng vay tài sản giữa bà T1 với vợ chồng bà A1, ông H1:
Trong năm 2009, bà T1 cho bà A1 vay tiền 05 lần tổng cộng là 3.700.000.000đ, khi vay không có tài sản đảm bảo.
Ngày 11, 12-02-2010 bà A1 đã trả cho bà T1 600.000.000đ nên bà A1 còn nợ lại bà T1 3.100.000.000đ.
Do bà A1 hông trả được tiếp nợ cho bà T1, nên ngày 14-3-2011 bà T1 h i iện yêu cầu bà A1 phải trả 3.100.000.000đ nợ gốc và lãi phát sinh đến thời điểm xét xử sơ thẩm theo quy đ nh của pháp luật.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm (lần 2) số 35/2019/DS-ST ngày 06-9-2019 của Tòa án nhân dân huyện X đã tuyên xử chấp nhận yêu cầu h i iện của bà T1, buộc vợ chồng bà A1 ông H1 phải trả cho bà T1 5.965.450.000đ, trong đó gồm 3.100.000.000đ nợ gốc và 2.865.450.000đ nợ lãi.
Sau hi xét xử sơ thẩm (lần 02) thì phần quyết đ nh của bản án sơ thẩm đã tuyên về việc giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa bà T1 với vợ chồng bà A1, ông H1 hông có háng cáo, háng ngh nên đã có hiệu lực pháp luật.
Xét quan hệ tranh chấp bị phụ thuộc của bà T1 yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng nhà đất số 60, 61 tại thôn T, xã P, huyện X giữa vợ chồng bà A1, ông H1 với ông V và giữa vợ chồng ông V, bà N1 với ông P1 để đảm bảo thi hành án cho bà T1:
Nguồn gốc nhà đất số 60, 61 thôn T, xã P, huyện X:
Căn cứ vào Giấy chứng nhận quyền s hữu nhà và quyền sử d ng đất số 777512662300184 ngày 25-11-2009 (BL 69, 70); Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số L 652073 ngày 12-8-1998, đã ch nh l trang IV ngày 07-7-2009 (BL 61, 62, 63) thì nguyên căn nhà gắn liền với diện tích đất tọa lạc tại số 60, xã P, huyện X là thuộc quyền s hữu sử d ng của vợ chồng bà A1, ông H1.
Căn cứ vào Giấy chứng nhận quyền s hữu nhà và quyền sử d ng đất số 777512662300167 ngày 02-10-2009 (BL 67, 68); Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số T 227334, đã ch nh l trang IV ngày 23-7-2009 (BL 64, 65, 66) thì nguyên căn nhà gắn liền với diện tích đất tọa lạc tại số 61, xã P, huyện X là thuộc quyền s hữu sử d ng của vợ chồng bà A1, ông H1.
Mối quan hệ giữa bà A1 với ông V; Đối tượng, chủ thể và giá chuyển nhượng trong Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất số 69 ngày 26-8-2010:
Theo sự thừa nhận của các đương sự thì ông V và bà A1 có quan hệ huyết thống là anh em ruột.
Căn cứ vào Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất số 69 ngày 26-8-2010 thì:
- Đối tượng chuyển nhượng trong Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất số 69 ngày 26-8-2010 là 02 căn nhà gắn liền với hai diện tích đất tọa lạc số 60, 61 thôn T, xã P, huyện X thuộc quyền s hữu sử d ng của vợ chồng bà A1, ông H1.
- Chủ thể trong Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất số 69 ngày 26-8-2010 giữa bên chuyển nhượng là vợ chồng bà A1, ông H1 và bên nhận chuyển nhượng là ông V - anh ruột của bà A1.
- Theo ông V thì vợ chồng bà A1, ông H1 chuyển nhượng nhà đất số 60, 61 thôn T, xã P, huyện X cho ông V với giá tổng cộng là 4.000.000.000đ nhưng ghi trong hợp đồng là 680.000.000đ.
Các sự kiện pháp lý phát sinh trong vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa bà T1 với vợ chồng bà A1, ông H1 liên quan đến hợp đồng chuyển nhượng nhà đất số 60, 61 thôn T, xã P, huyện X tại các thời điểm tố tụng khác nhau trong các giai đoạn tố tụng như sau:
Việc yêu cầu và áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa nhà đất 60, 61 thôn T, xã P, huyện X trong giai đoạn Tòa án nhân dân huyện X giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm (lần 1) theo Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2012/DSST ngày 04-7-2012:
Về căn cứ bà T1 yêu cầu áp d ng biện pháp hẩn cấp tạm thời: Bà T1 cho rằng vợ chồng bà A1, ông H1 hông trả nợ cho bà T1 mà có hành vi tẩu tán tài sản bằng cách chuyển nhượng giả cách nhà đất số 60, 61 thôn T, xã P, huyện X cho anh ruột là ông V vào ngày 26-8-2010 để trốn tránh trách nhiệm trả nợ, do đó ngày 05-4-2011 và ngày 24-6-2011, bà T1 đã nộp đơn yêu cầu áp d ng biện pháp hẩn cấp tạm thời ngăn chặn việc chuyển nhượng này để đảm bảo thi hành án cho bà T1.
Tòa án nhân dân huyện X chấp nhận toàn bộ yêu cầu áp d ng biện pháp hẩn cấp tạm thời của bà T1 nên đã ban hành Quyết đ nh áp d ng biện pháp hẩn cấp tạm thời số 02/2011/QĐ-BPKCTT ngày 06-4-2011 và Quyết đ nh áp d ng biện pháp hẩn cấp tạm thời số 04/2011/QĐ-BPKCTT ngày 27-6-2011 phong tỏa nhà đất số 60, 61 thôn T, xã P, huyện X thuộc quyền s hữu sử d ng của vợ chồng bà A1, ông H1 để đảm bảo thi hành án cho bà T1.
* Nhận định và quyết định của Tòa án các cấp về tính hợp pháp của Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 02/2011/QĐ-BPKCTT ngày 06-4-2011 và Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 04/2011/QĐ-BPKCTT ngày 27-6-2011 của Tòa án nhân dân huyện X:
Nhận định và quyết định của Bản án dân sự sơ thẩm (lần 1) số 10/2012/DSST ngày 04-7-2012 của Tòa án nhân dân huyện X (BL 200- 203):
Nợ gốc của vợ chồng bà A1, ông H1 đối với bà T1 c n lại đến ngày 12-02-2010 là 3.100.000.000đ; nhà đất tọa lạc tại số 60, 61 thôn T, xã P, huyện X là tài sản duy nhất c n lại của vợ chồng bà A1, ông H1; ngày 26-8-2010, vợ chồng bà A1, ông H1 chuyển nhượng nhà đất này cho anh ruột là ông V nhưng hông trả nợ cho bà T1 nên Bản án dân sự sơ thẩm (lần 1) số 10/2012/DSST ngày 04-7-2012 của Tòa án nhân dân huyện X đã nhận đ nh việc vợ chồng bà A1, ông H1 chuyển nhượng nhà đất cho ông V là giả tạo nhằm m c đích trốn tránh nghĩa v trả nợ, do đó tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất số 69 ngày 26-8-2010 giữa vợ chồng bà A1, ông H1 với ông V là vô hiệu; buộc vợ chồng ông V, bà N1 phải trả lại nhà đất đã nhận chuyển nhượng của vợ chồng bà A1, ông H1; tiếp t c duy trì các quyết đ nh áp d ng biện pháp hẩn cấp tạm thời để đảm bảo thi hành án cho bà T1 (BL 200- 203).
Nhận định và quyết định của Bản án dân sự phúc thẩm (lần 1) số 56/2012/DSPT ngày 14-9-2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (238-241):
Nhà đất số 60, 61 thôn T, xã P, huyện X hông phải là tài sản đảm bảo nợ vay của bà A1 đối với bà T1.
Căn cứ vào Hợp đồng chuyển nhượng số 69 ngày 26-8-2010 thì vợ chồng bà A1, ông H1 chuyển nhượng quyền s hữu hai căn nhà gắn liền với hai quyền sử d ng đất số 60, 61 thôn T, xã P, huyện X cho ông V.
Theo quy đ nh tại Khoản 3, 5 Điều 93 Luật Nhà thì việc chuyển nhượng nhà giữa vợ chồng bà A1, ông H1 với ông V là có hiệu lực vào ngày 26-8-2010.
Ngày 14-3-2011, bà T1 có đơn h i iện vợ chồng bà A1, ông H1; sau đó, ngày 05-4-2011 và ngày 24-6-2011, bà T1 mới có đơn yêu cầu áp d ng biện pháp hẩn cấp tạm thời ngăn chặn việc chuyển nhượng nhà đất giữa vợ chồng bà A1, ông H1 với ông V để đảm bảo thi hành án cho bà T1 trong hi hai căn nhà số 60, 61 thôn T, xã P, huyện X đã được xác lập quyền s hữu cho ông V vào ngày 26-8-2010 nhưng Tòa án nhân dân huyện X lại chấp nhận toàn bộ yêu cầu áp d ng biện pháp hẩn cấp tạm thời của bà T1 để phong tỏa toàn bộ hai căn nhà và toàn bộ hai diện tích đất tọa lạc số 60, 61 thôn T, xã P, huyện X để đảm bảo thi hành án cho bà T1 là hông phù hợp.
Vì các lý do trên nên Bản án dân sự phúc thẩm (lần 1) số 56/2012/DSPT ngày 14-9-2012 của T a án nhân dân t nh bà R a – V ng Tàu đã tuyên xử, sửa một phần bản án sơ thẩm (lần 1), hủy bỏ Quyết đ nh áp d ng biện pháp hẩn cấp tạm thời số 02/2011/QĐ-BPKCTT ngày 06-4-2011 và Quyết đ nh áp d ng biện pháp hẩn cấp tạm thời số 04/2011/QĐ-BPKCTT ngày 27-6-2011 của Tòa án nhân dân huyện X; hủy bản án sơ thẩm (lần 1) về phần giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử d ng đất giữa vợ chồng bà A1, ông H1 với ông V.
Nhận định và quyết định của Quyết định giám đốc thẩm số 259/2014/DS-GĐT ngày 16-6-2014 của Tòa Dân sự Tòa án nhân dân tối cao (BL 252-255):
Bản án dân sự sơ thẩm (lần 1) số 10/2012/DSST ngày 04-7-2012 của Tòa án nhân dân huyện X tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất số 69 ngày 26-8-2010 giữa vợ chồng bà A1, ông H1 với ông V là vô hiệu vì giả tạo và tiếp t c duy trì các quyết đ nh áp d ng biện pháp hẩn cấp tạm thời để đảm bảo thi hành án cho bà T1 là đúng. Do đó hủy một phần Bản án dân sự phúc thẩm (lần 1) số 56/2012/DSPT ngày 14-9-2012 của T a án nhân dân t nh Bà R a – V ng Tàu đối với phần quyết đ nh giải quyết hủy một phần Bản án dân sự sơ thẩm (lần 1) số 10/2012/DSST ngày 04-7-2012 của Tòa án nhân dân huyện X, giao hồ sơ về lại cho T a án nhân dân t nh Bà R a – V ng Tàu giải quyết lại theo trình tự phúc thẩm.
Hội đồng xét xử (phúc thẩm (lần 3) nhận xét về việc chuyển nhượng và tính hợp pháp của việc chuyển nhượng liên quan đến nhà đất tọa lạc tại số 60, 61 thôn T, xã P, huyện X:
Ngày 26-8-2010, vợ chồng bà A1, ông H1 chuyển nhượng hai căn nhà gắn liền với hai diện tích đất tọa lạc tại số 60, 61 thôn T, xã P, huyện X cho ông V.
Tại Khoản 3, 5 Điều 93 Luật Nhà (2005) quy đ nh việc chuyển nhượng nhà có hiệu lực ể từ ngày hợp đồng chuyển nhượng được công chứng, Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất số 69 được công chứng vào ngày 26-8-2010 nên quyền s hữu nhà của ông V đối với hai căn nhà số 60, 61 thôn T, xã P, huyện X c ng được xác lập vào ngày 26-8-2010.
Tại hoản 1 Điều 161, Điều 503 Bộ luật Dân sự 2015; hoản 7 Điều 95, hoản 3 Điều 188 Luật Đất đai 2013 quy đ nh, việc chuyển nhượng quyền sử d ng đất có hiệu lực ể từ thời điểm đăng , ngày 30-10-2012 ông V được đăng biến động ch nh l trang IV trong hai giấy chứng nhận quyền sử d ng đất tọa lạc tại số 60, 61 thôn T, xã P, huyện X là trong giai đoạn Bản án dân sự phúc thẩm (lần 1) số 56/2012/DSPT của T a án nhân dân t nh Bà R a – V ng Tàu có hiệu lực pháp luật vào ngày 20-11-2014 là công hai ngay tình và hợp pháp.
Như vậy, ể từ thời điểm ngày 30-10-2012 thì ông V đã hoàn tất xong thủ t c chuyển nhượng 02 căn nhà gắn liền với hai diện tích đất tọa lạc tại số 60, 61 thôn T, xã P, huyện X.
Ngày 26-12-2012, vợ chồng ông V, bà N1 Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất số 1690 tọa lạc tại số 60 cho vợ chồng ông K2, bà P4 và ngày 28-5-2013, vợ chồng ông V, bà N1 Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất số 1033 tọa lạc tại số 61 cho ông P1, hiện nay cả hai hợp đồng chuyển nhượng nhà đất này đều chưa hoàn tất thủ t c sang tên cho bên nhận chuyển nhượng.
Việc yêu cầu và áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa nhà đất 60, 61 thôn T, xã P, huyện X trong giai đoạn Tòa án nhân dân huyện X giải quyết vụ án theo trình tự sơ thẩm (lần 2) theo Bản án dân sự sơ thẩm số 35/2019/DS-ST ngày 06-9-2019:
Sau khi Tòa án nhân dân huyện X th l giải quyết lại v án theo trình tự sơ thẩm (lần 2) vào ngày 15-12-2014 thì bà T1 cho rằng vợ chồng bà A1, ông H1 đang tẩu tán tài sản theo hình thức chuyển nhượng nhà đất giả tạo cho ông V; vợ chồng ông V, bà N1 lại tiếp t c chuyển nhượng một phần nhà đất cho ông P1, nên cùng ngày 15-12-2014 bà T1 đã có đơn yêu cầu áp d ng biện pháp hẩn cấp tạm thời đối với người b yêu cầu là vợ chồng bà A1, ông H1 yêu cầu phong tỏa tài sản của vợ chồng bà A1, ông H1 đối với nhà đất số 60, 61 thôn T, xã P, huyện X.
Ngày 17-12-2014, Tòa án nhân dân huyện X ban hành Quyết đ nh áp d ng biện pháp hẩn cấp tạm thời số 04/2014/QĐ-BPKCTT phong tỏa tài sản là “quyền sử d ng đất thuộc thửa 105, 818, 617, 819 tờ bản đồ 03 xã P, huyện X, t nh Bà R a – V ng Tàu, đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử d ng đất cho ông Đặng Quý V”.
Vì vợ chồng bà A1, ông H1 hông trả nợ cho bà T1, nên bà T1 có quyền yêu cầu áp d ng biện pháp hẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản của vợ chồng của bà A1, ông H1 để đảm bảo thi hành án, tuy nhiên việc bà T1 là người yêu cầu áp d ng biện pháp hẩn cấp tạm thời và Tòa án nhân dân huyện X là cơ quan ban hành quyết đ nh áp d ng biện pháp hẩn cấp tạm thời đều phải đáp ứng được những điều iện mà pháp luật quy đ nh tại thời điểm áp d ng biện pháp hẩn cấp tạm thời, thì việc phong tỏa tài sản mới có căn cứ pháp luật và có căn cứ để thi hành án.
Hội đồng xét xử phúc thẩm (lần 3) xét tính có căn cứ của Đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của bà T1 đề ngày 15-12-2014 và tính hợp pháp của Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 04/2014/QĐ-BPKCTT ngày 17-12-2014 của Tòa án nhân dân huyện X như sau:
* Xét tính có căn cứ của đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của bà T1 đề ngày 15-12-2014:
Căn cứ vào các quy đ nh của pháp luật cho thấy, tại thời điểm bà T1 có đơn yêu cầu áp d ng biện pháp hẩn cấp tạm thời vào ngày 15-12-2014 thì đơn yêu cầu của bà T1 có những bất cập và mâu thuẫn về hình thức, nội dung, chủ thể b yêu cầu áp d ng và đối tượng tài sản b yêu cầu phong tỏa như sau:
- Về người bị yêu cầu phong tỏa tài sản: Người b bà T1 yêu cầu áp d ng biện pháp hẩn cấp tạm thời là vợ chồng bà A1, ông H1 nhưng tài sản mà bà T1 yêu cầu phong tỏa là thuộc quyền s hữu sử d ng của ông V như đã viện dẫn phân tích tại m c [2.3.2] m c [V], trong khi ông V hông phải là người có nghĩa v về tài sản đối với bà T1, do đó người b yêu cầu phong tỏa tài sản trong đơn yêu cầu áp d ng biện pháp hẩn cấp tạm thời của bà T1 là mâu thuẫn và không có căn cứ pháp luật.
- Về tài sản bị yêu cầu phong tỏa: Tại thời điểm bà T1 yêu cầu áp d ng biện pháp hẩn cấp tạm thời vào ngày 15-12-2014 đề ngh phong tỏa hai căn nhà gắn liền với hai quyền sử d ng đất tọa lạc tại số 60, 61 thôn T, xã P, huyện X để đảm bảo thi hành án cho bà T1 thì hai căn nhà gắn liền với hai diện tích đất này hông c n là tài sản thuộc quyền sơ hữu sử d ng của vợ chồng bà A1, ông H1 nữa; do đó tài sản b yêu cầu phong tỏa trong đơn yêu cầu áp d ng biện pháp hẩn cấp tạm thời của bà T1 là c ng không có căn cứ pháp luật.
* Xét tính hợp pháp của Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 04/2014/QĐ-BPKCTT ngày 17-12-2014 của Tòa án nhân dân huyện X:
Thứ nhất, về thời điểm áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời: Về nguyên tắc, hi th l giải quyết lại v án tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa bà T1 với vợ chồng bà A1, ông H1 theo trình tự sơ thẩm (lần 2) được dứt điểm một cách hách quan toàn diện đầy đủ và có căn cứ pháp luật, thì Tòa án nhân dân huyện X không ch phải xem xét giải quyết các yêu cầu của các đương sự mà c n phải thu thập chứng cứ và xem xét giải quyết đối với những hệ quả mới phát sinh trong và ngoài giai đoạn thi hành án đối với Bản án dân sự phúc thẩm (lần 1) số 56/2012/DSPT của Tòa án nhân dân t nh Bà R a – V ng Tàu đã có hiệu lực pháp luật vào ngày 14-9-2012. Tuy nhiên căn cứ vào các chứng có trong hồ sơ thể hiện, hi th l giải quyết lại v án theo trình tự sơ thẩm (lần 02) vào ngày 15-12-2014 và hi ban hành Quyết đ nh áp d ng biện pháp hẩn cấp tạm thời số 04/2014/QĐ-BPKCTT vào ngày 17-12-2014 thì Tòa án nhân dân huyện X đã bỏ qua hông xem xét đến các sự iện pháp l mới phát sinh trong giai đoạn Bản án dân sự phúc thẩm (lần 1) số 56/2012/DSPT của T a án nhân dân t nh Bà R a – V ng Tàu có hiệu lực pháp luật vào ngày 14-9-2012 là có thiếu sót.
Thứ hai, về tài sản bị phong tỏa: Tại thời điểm bà T1 có đơn yêu cầu áp d ng biện pháp hẩn cấp tạm thời vào ngày 15-12-2014 thì hai căn nhà gắn liền với hai quyền sử d ng đất tọa lạc tại số 60, 61 thôn T, xã P, huyện X là thuộc quyền s hữu sử d ng của ông V, bà N1 như đã viện dẫn phân tích tại m c [2.3.2] m c [V], do đó đơn yêu cầu áp d ng biện pháp hẩn cấp tạm thời của bà T1 là hông có căn cứ pháp luật, nhưng Tòa án nhân dân huyện X lại chấp nhận đơn yêu cầu áp d ng biện pháp hẩn cấp tạm thời của bà T1, ban hành Quyết đ nh áp d ng biện pháp hẩn cấp tạm thời số 04/2014/QĐ-BPKCTT ngày 17-12-2014 phong tỏa “quyền sử d ng đất thuộc thửa 105, 818, 617, 819 tờ bản đồ 03 xã P, huyện X, t nh Bà R a – V ng Tàu đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử d ng đất cho ông Đặng Qu V” để đảm bảo thi hành án cho bà T1, trong khi ông V hông phải là người có nghĩa v về tài sản đối với bà T1 là c ng hông có căn cứ pháp luật.
Thứ ba, về cơ sở để xem xét chấp nhận và áp dụng ban hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để đảm bảo thi hành án theo yêu cầu của bà T1: Về nguyên tắc hi ban hành quyết đ nh áp d ng biện pháp hẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản để đảm bảo thi hành án theo yêu cầu của bà T1, thì Tòa án nhân dân huyện X phải xem xét các vấn đề có liên quan là: Người b yêu cầu áp d ng phải là người có nghĩa v ; Tài sản b yêu cầu phong tỏa phải thuộc quyền s hữu sử d ng của người có nghĩa v ; giá tr tài sản b yêu cầu phong tỏa phải tương đương với nghĩa v tài sản được đảm bảo thi hành án; tài sản b phong tỏa hông b tranh chấp hoặc hông thể thi hành án được. Tuy nhiên bên cạnh nguyên nhân thứ nhất và thứ hai nêu trên thì Hội đồng xét xử phúc thẩm lần (3) c n thấy, Quyết đ nh áp d ng biện pháp hẩn cấp tạm thời số 04/2014/QĐ-BPKCTT ngày 17-12-2014 của Tòa án nhân dân huyện X c n có những bất cập, hạn chế, thiếu sót về tố t ng về mặt hách quan và chủ quan, đồng thời hông đáp ứng được các tiêu chí mà pháp luật đã quy đ nh trong việc xem xét chấp nhận áp d ng biện pháp hẩn cấp tạm thời để đảm bảo thi hành án theo yêu cầu của bà T1, nên m c đích của việc phong tỏa tài sản để đảm bảo thi hành án cho bà T1 là hông thể thi hành án được, c thể như sau:
- Về giá trị tài sản bị phong tỏa: Nghĩa v về tài sản của vợ chồng bà A1, ông H1 đối với bà T1 là 5.965.450.000đ (gồm 3.100.000.000đ nợ gốc và 2.865.450.000đ nợ lãi). Căn cứ vào Biên bản đ nh giá ngày 22-9-2020 của Tòa án nhân dân t nh Bà R a – V ng Tàu thì tổng giá tr hai căn nhà gắn liền với hai diện tích đất tọa lạc tại số 60, 61 thôn T, xã P, huyện X là 22.909.490.576đ. Từ đó cho thấy, giá tr tài sản b phong tỏa theo Quyết đ nh áp d ng biện pháp hẩn cấp tạm thời số 04/2014/QĐ-BPKCTT ngày 17-12-2014 của Tòa án nhân dân huyện X là cao hơn gấp 04 lần giá tr được đảm bảo thi hành án cho bà T1 là hông “tương đương với nghĩa v tài sản mà người b áp d ng biện pháp hẩn cấp tạm thời có nghĩa v phải thực hiện” được quy đ nh tại Khoản 4 Điều 133 Bộ luật Tố t ng Dân sự.
- Tài sản bị phong tỏa bị hạn chế có vướng mắc về nội dung và tố tụng nên không thể đảm bảo thi hành án cho bà T1: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ do các đương sự trình bày và cung cấp tại giai đoạn giải quyết phúc (lần 3), căn cứ vào Biên bản xem xét thẩm đ nh tại chỗ ngày 22-9-2020 của T a án nhân dân t nh Bà R a – V ng Tàu thể hiện: Nguyên diện tích đất tọa lạc tại số 60 thôn T, xã P, huyện X trước đây thuộc quyền sử d ng của bà Trần Th D2 tiếp giáp liền ề với nhà đất số 61 tọa lạc tại thôn T, xã P, huyện X thuộc quyền s hữu sử d ng của bà Lưu Th Vân A2. Năm 2009, vợ chồng bà A1 ông H1 nhận chuyển nhượng diện tích đất tọa lạc tại số 60 từ bà D2 và nhận chuyển nhượng nhà đất số 61 từ bà A2. Sau hi nhận chuyển nhượng nhà đất từ hai chủ s hữu sử d ng tài sản khác nhau thì vợ chồng bà A1, ông H1 hông làm thủ t c nhập chung quyền sử d ng đất mà ch làm thủ t c ch nh l trang IV sang tên trong giấy chứng nhận quyền s hữu nhà và quyền sử d ng đất, rồi để sử d ng chung hai nhà đất này vào m c đích inh doanh nhà hàng. Quá trình kinh doanh nhà hàng, vợ chồng bà A1, ông H1 đã xây dựng một căn nhà dài (01 tầng loại 03) dọc theo chiều đất, căn nhà này có một phần iến trúc được xây dựng trên diện tích đất nhận chuyển nhượng từ bà D2 và một phần iến trúc được xây dựng trên diện tích đất nhận chuyển nhượng từ bà A2. Sau khi hai căn nhà gắn liền với hai diện tích đất tọa lạc tại số 60, 61 thôn T, xã P, huyện X đã được chuyển giao quyền s hữu, sử d ng hoàn tất sang ông V vào ngày 30-10-2012 thì ngày 26-12-2012, vợ chồng ông V, bà N1 Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất số 1690 tọa lạc tại số 60 cho vợ chồng ông K2, bà P4; đến ngày 28-5-2013, vợ chồng ông V, bà N1 lại Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất số 1033 tọa lạc tại số 61 cho ông P1, do đó khi ban hành Quyết đ nh áp d ng biện pháp hẩn cấp tạm thời số 04/2014/QĐ-BPKCTT ngày 17-12-2014, thì Tòa án nhân dân huyện X còn có những thiếu sót như sau:
+ Tòa án nhân dân huyện X phong tỏa “quyền sử d ng đất thuộc thửa 105, 818, 617, 819 tờ bản đồ 03 xã P, huyện X”, trong hi ba căn nhà gắn liền trên các thửa đất này lại hông được đề cập đến;
+ Tòa án nhân dân huyện X không làm rõ quyền s hữu, sử d ng đối với các tài sản b phong tỏa; hông làm rõ những vướng mắc giữa các bên có liên quan đến tài sản b phong tỏa giữa vợ chồng ông V, bà N1 với vợ chồng ông K2, bà P4; giữa vợ chồng ông V, bà N1 với ông P1; giữa vợ chồng ông K2, bà P4 với vợ chồng ông P1, bà N2 đối với căn nhà dài (01 tầng loại 03) dọc theo chiều đất, có một phần iến trúc được xây dựng nằm trên diện tích đất vợ chồng ông K2, bà P4 nhận chuyển nhượng từ vợ chồng ông V, bà N1 và một phần iến trúc được xây dựng nằm trên diện tích đất ông P1 nhận chuyển nhượng từ vợ chồng ông V,bà N1.
+ Tòa án nhân dân huyện X phong tỏa tài sản của vợ chồng ông K2, bà P4 nhận chuyển nhượng từ vợ chồng ông V, bà N1 (để đảm bảo thi hành án cho bà T1) nhưng lại hông đưa vợ chồng ông K2, bà P4 vào tham gia tố t ng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa v liên quan;
* Kết luận: Từ những viện dẫn phân tích tại m c [V] nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm (lần 3) đã có đủ căn cứ để xác đ nh: Đơn yêu cầu áp d ng biện pháp hẩn cấp tạm thời của bà T1 đề ngày 15-12-2014 và Quyết đ nh áp d ng biện pháp hẩn cấp tạm thời số 04/2014/QĐ-BPKCTT ngày 17-12-2014 của Tòa án nhân dân huyện X đều hông đáp ứng được các quy đ nh của pháp luật trong việc yêu cầu và áp d ng biện pháp hẩn cấp tạm thời để đảm bảo thi hành án đối với trường hợp vay hông có tài sản thế chấp, nên m c đích của việc phong tỏa tài sản để đảm bảo thi hành án cho bà T1 là hông thể thực hiện được, do đó Hội đồng xét xử phúc thẩm (lần 3) thống nhất: Không chấp nhận quan điểm của Đại diện Viện iểm sát nhân dân t nh Bà R a – V ng Tàu đề ngh hủy toàn bộ bản án sơ thẩm; chấp nhận một phần kháng cáo của ông T4 (đại diện theo ủy quyền của vợ chồng bà A1 ông H1), chấp nhận một phần háng cáo của ông T3 (đại diện theo ủy quyền của vợ chồng ông V, bà N1), chấp nhận một phần háng cáo của ông P1, sửa một phần bản án sơ thẩm (lần 2) theo hướng:
- Hủy bỏ việc áp d ng biện pháp hẩn cấp tạm thời đối với Quyết đ nh áp d ng biện pháp hẩn cấp tạm thời số 04/2014/QĐ-BPKCTT ngày 17-12-2014 của Tòa án nhân dân huyện X.
- Không chấp nhận yêu cầu h i iện của bà T1 đề ngh hủy Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất số 69 ngày 26-8-2010 đối với nhà đất tọa lạc số 60, 61 thôn T, xã P, huyện X giữa vợ chồng bà A1, ông H1 với ông V.
- Không chấp nhận yêu cầu h i iện của bà T1 đề ngh hủy tất cả các nội dung ch nh l trang IV trong các giấy chứng nhận quyền sử d ng đất và quyền s hữu nhà đối với nhà đất tọa lạc số 60, 61 thôn T, xã P, huyện X cho ông V cùng ngày 30-10-2012.
- Không chấp nhận yêu cầu h i iện của bà T1 đề ngh hủy Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất số 1033 ngày 28-5-2013 đối với nhà đất tọa lạc số 61 thôn T, xã P, huyện X giữa được
ết giữa vợ chồng ông V, bà N1 với ông P1.
Hội đồng xét xử phúc thẩm (lần 3) sẽ ban hành quyết đ nh hủy bỏ việc áp d ng biện pháp hẩn cấp tạm thời đối với Quyết đ nh áp d ng biện pháp hẩn cấp tạm thời số 04/2014/QĐ-BPKCTT ngày 17-12-2014 của Tòa án nhân dân huyện X bằng một quyết đ nh riêng độc lập với bản án phúc thẩm (lần 3).
[VI] Quan hệ giữa các đương sự liên quan đến nhà đất tọa lạc tại số 60, 61 thôn T, xã P, huyện X:
Việc chuyển nhượng liên quan đến nhà đất tọa lạc tại số 60, 61 thôn T, xã P, huyện X giữa vợ chồng ông V, bà N1 với vợ chồng ông K2, bà P4; giữa vợ chồng ông V, bà N1 với ông P1; giữa vợ chồng ông K2, bà P4 với vợ chồng ông P1, bà N2 nếu có tranh chấp thì được giải quyết bằng một v án hác.
[VII] Về chi phí thẩm định, định giá:
Bà T1 là người yêu cầu áp d ng biện pháp hẩn cấp tạm thời phong tỏa tài sản đảm bảo thi hành án hông có căn cứ pháp luật nên phải ch u chi phí thẩm đ nh, đ nh giá theo quy đ nh của pháp luật.
[VIII] Về án phí:
Căn cứ Khoản 2, 4 Điều 29; Khoản 3, Điều 26 Ngh Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường v Quốc hội quy đ nh về án phí lệ phí T a án thì bà T1 rút háng cáo tại phiên t a phúc thẩm nên phải ch u toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm; vợ chồng bà A1 ông H1 vợ chồng ông V, bà N1 và ông P1 được chấp nhận một phần háng cáo nên hông phải nộp án phí dân sự phúc thẩm; bà T1 hông được chấp nhận yêu cầu hủy Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất số 69 ngày 26-8-2010 nên phải ch u án phí dân sự sơ thẩm hông có giá ngạch.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp d ng Khoản 2 Điều 308, Bộ luật Tố t ng dân sự, tuyên xử: Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm (lần 2) số 35/2019/DS-ST ngày 06-9-2019 của T a án nhân dân huyện X, c thể như sau:
[I] Đối với quan hệ “tranh chấp hợp đồng vay tài sản”:
Giữ nguyên phần quyết đ nh giải quyết tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” trong Bản án dân sự sơ thẩm (lần 2) số 35/2019/DS-ST ngày 06-9-2019 của T a án nhân dân huyện X như sau:
Chấp nhận yêu cầu h i iện của bà Võ Th T1 đối với vợ chồng bà Đặng Th Kim A1, ông Hà Quang H1 về việc tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản”.
Buộc vợ chồng bà Đặng Th Kim A1, ông Hà Quang H1 có nghĩa v trả cho bà Võ Th T1 5.965.450.000đ (Năm tỷ, chín trăm sáu mươi lăm triệu, bốn trăm năm mươi ngàn đồng), trong đó gồm 3.100.000.000đ (Ba tỷ, một trăm triệu đồng) tiền gốc và 2.865.450.000đ (Hai tỷ, tám trăm sáu mươi lăm triệu, bốn trăm năm mươi ngàn đồng) tiền lãi.
Kể từ ngày bà Võ Thị T1 có đơn yêu cầu thi hành án, thì hàng tháng vợ chồng bà Đặng Thị Kim A1, ông Hà Quang H1 phải chịu thêm một khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS 2015 đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm thi hành án tại thời điểm thanh toán cho bà Võ Thị T1.
[II] Đối với quan hệ tranh chấp bị phụ thuộc của bà Võ Thị T1 “Yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng nhà đất” đối với hai căn nhà gắn liền với hai diện tích đất tọa lạc tại số 60, 61 xã P, huyện X để đảm bảo thi hành án cho bà Võ Thị T1:
[1] Áp d ng Điểm c Khoản 1 Điều 289 Bộ luật Tố t ng dân sự đình ch xét xử phúc thẩm đối với háng cáo của bà Võ Th T1 và ông Võ Cát T2 (đại diện theo ủy quyền của bà Võ Th T1).
[2] Áp d ng Khoản 4 Điều 133, Điểm đ, e Khoản 1 Điều 138 Bộ luật Tố t ng Dân sự; Khoản 1, 3 Điều 19 Ngh Quyết số 02/2020/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp d ng một số quy đ nh về các biện pháp hẩn cấp tạm thời của Bộ luật Tố t ng dân sự, tuyên xử:
Không chấp nhận quan điểm của Đại diện Viện iểm sát nhân dân t nh Bà R a – V ng Tàu đề ngh hủy toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm (lần 2) số 35/2019/DS-ST ngày 06-9-2019 của T a án nhân dân huyện X; chấp nhận một phần háng cáo của ông Lê T4 (đại diện theo ủy quyền của vợ chồng bà Đặng Th Kim A1, ông Hà Quang H1); chấp nhận một phần háng cáo của ông Phạm Minh T3 (đại diện theo ủy quyền của vợ chồng ông Đặng Qu V, bà Ngô Th Ánh N1); chấp nhận một phần háng cáo của ông Trần Đình P1; không chấp nhận yêu cầu h i iện của bà Võ Th T1 về các nội dung liên quan đến việc chuyển nhượng hai căn nhà gắn liền với hai diện tích đất tọa lạc tại số 60, 61 xã P, huyện X như sau:
[2.1] Không chấp nhận yêu cầu h i iện của bà Võ Th T1 yêu cầu hủy Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất số 69 ngày 26-8-2010 giữa vợ chồng bà Đặng Th Kim A1, ông Hà Quang H1 với ông Đặng Qu V đối với hai căn nhà gắn liền với hai diện tích đất tọa lạc tại số 60, 61 xã P, huyện X.
[2.2] Không chấp nhận yêu cầu h i iện của bà Võ Th T1 đề ngh hủy nội dung ch nh l biến động trang IV sang tên quyền sử d ng đất và quyền s hữu nhà đối với hai căn nhà gắn liền với hai diện tích đất tọa lạc tại số 60, 61 xã P, huyện X cho ông Đặng Qu V vào cùng ngày 30-10-2012 trong các giấy chứng nhận tài sản:
+ Giấy chứng nhận quyền s hữu nhà và quyền sử d ng đất số 777512662300184 do Ủy ban nhân dân huyện X cấp cho bà Đặng Th Kim A1, ông Hà Quang H1 vào ngày 25-11-2009;
+ Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số L 652073 do UBND huyện X cấp cho bà Trần Th D2 ngày 12-8-1998, đã ch nh l sang tên cho bà Đặng Th Kim A1, ông Hà Quang H1 vào ngày 07-7-2009.
+ Giấy chứng nhận quyền s hữu nhà và quyền sử d ng đất số 777512662300167 của Ủy ban nhân dân huyện X cấp cho bà Đặng Th Kim A1, ông Hà Quang H1 ngày 02-10-2009;
+ Giấy chứng nhận quyền sử d ng đất số T 227334 của UBND huyện X cấp cho bà Lưu Th Vân A2 ngày 02-7-2001, đã ch nh l sang tên cho bà Đặng Th Kim A1, ông Hà Quang H1 ngày 23-7-2009.
[2.3] Không chấp nhận yêu cầu h i iện của bà Võ Th T1 về hủy Hợp đồng chuyển nhượng nhà đất số 1033 ngày 28-5-2013 giữa vợ chồng ông Đặng Qu V, bà Ngô Th Ánh N1 với ông Trần Đình P1 đối với căn nhà gắn liền với diện tích đất tọa lạc tại số 61 xã P, huyện X.
[2.4] Kể từ ngày bản án phúc thẩm lần (3) có hiệu lực pháp luật thì Quyết đ nh áp d ng biện pháp hẩn cấp tạm thời số 04/2014/QĐ-BPKCTT ngày 17-12-2014 của Tòa án nhân dân huyện X trong quá trình giải quyết v án b hủy bỏ.
[III] Quan hệ giữa các đương sự liên quan đến nhà đất tọa lạc tại số 60, 61 thôn T, xã P, huyện X:
Việc chuyển nhượng liên quan đến hai căn nhà gắn liền với hai diện tích đất tọa lạc tại số 60, 61 thôn T, xã P, huyện X giữa vợ chồng ông Đặng Qu V, bà Ngô Th Ánh N1 với vợ chồng ông Nguyễn Ngọc K2, bà Đào Th P4; giữa vợ chồng ông Đặng Qu V, bà Ngô Th Ánh N1 với ông Trần Đình P1 và giữa vợ chồng ông Nguyễn Ngọc K2, bà Đào Th P4 với vợ chồng ông Trần Đình P1, bà Nguyễn Th N2 nếu có tranh chấp thì được giải quyết bằng một v án hác.
[IV] Về chi phí thẩm định, định giá: Tổng cộng là 9.251.000đ (Chín triệu, hai trăm năm mươi mốt ngàn đồng), bà Võ Th T1 phải ch u và đã nộp đủ.
[V] Về án phí:
[1] Án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà Võ Th T1 phải ch u 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch, hấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 47.000.000đ (Bốn mươi bảy triệu đồng) bà Võ Th T1 đã nộp theo Biên lai thu số 02049 ngày 12-12-2014 của Chi c c Thi hành án dân sự huyện X, bà Võ Th T1 được hoàn trả lại 46.700.000đ (Bốn mươi sáu triệu, bảy trăm ngàn đồng).
- Vợ chồng ông Hà Quang H1, bà Đặng Th Kim A1 phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 113.965.450đ (Một trăm mười ba triệu, chín trăm sáu mươi lăm ngàn, bốn trăm năm mươi đồng).
[2] Án phí dân sự phúc thẩm:
- Bà Võ Th T1 phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng), hấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) bà Võ Th T1 đã nộp theo Biên lai thu số 0001391 ngày 23-9-2019 của Chi c c Thi hành án dân sự huyện X. Bà Võ Th T1 đã nộp xong án phí dân sự phúc thẩm.
- Vợ chồng ông Hà Quang H1, bà Đặng Th Kim A1 được hoàn trả lại 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu số 0001406 ngày 27-9-2019 của Chi c c Thi hành án dân sự huyện X.
- Vợ chồng ông Đặng Qu V, bà Ngô Th Ánh N1 được hoàn trả lại 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu số 0001430 ngày 14-10-2019 của Chi c c Thi hành án dân sự huyện X.
- Ông Trần Đình P1 được hoàn trả lại 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu số 0001431 ngày 14-10-2019 của Chi c c Thi hành án dân sự huyện X.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Lụât thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ể từ ngày tuyên án (ngày 02-12-2020).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: -VKSND t nh BR-VT; -TAND huyện X; -Chi c c THADS huyện X; -Các đương sự; -Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thị Quang |