vanban.org

Bản án 156/2019/HSST — Hình sự

TAND Quận 1, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 05/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Hữu K 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/6/1/2019. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 156/2019/HSST
Ngày: 5/11/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hoàng Vương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nghiêm Thị Xuân Huê.

2. Bà Cao Kim Triều,

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thùy Trang - Kiểm

sát viên Viện kiểm sát nhân dân Quận 1.

Ngày 5 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1 xét xử sơ thẩm

công khai vụ án hình sự thụ lý số: 140/2019/TLST-HS ngày 7 tháng 10 năm 2019

Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 834/2019/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 10 năm

2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Hữu K. Giới tính: Nam, sinh ngày: 20/4/1987; Tại: Nghệ

An. Nơi đăng ký HKTT: Xóm Phúc Thiêm, xã Diễn Phúc, huyện Diễn Châu, tỉnh

Nghệ An. Chỗ ở hiện nay: Không nơi cư trú nhất định. Quốc tịch: Việt Nam; Dân

tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 12/12. Nghề nghiệp: Không. Cha:

Nguyễn T; sinh năm 1952. Mẹ: Đậu Thị T; sinh năm 1950.

Gia đình bị

can có 08 anh chị em, bị cáo là con thứ sáu trong gia đình. Vợ, con: Chưa có. Tiền

án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an Quận 1 từ ngày 29/6/2019 cho

đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ

án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng ma túy, vào ngày 29/6/2019, Nguyễn Hữu K đến

trước nhà số 186/2 Bùi Viện, Phường Phạm Ngũ Lão, Quận 1, mua 03 gói nylon

ma túy từ một người phụ nữ (không rõ lai lịch) với giá 450.000 đồng; sau đó Nguyễn Hữu Kcất 02 gói vào túi quần phía trước bên phải và 01 gói vào túi quần phía trước bên trái rồi đi bộ đến Giao lộ Bùi Viện – Đề Thám, Phường Phạm Ngũ Lão, Quận 1. Đến khoảng 20 giờ 15 phút cùng ngày, các anh Lê Phước Minh, Trần Phước Được (bảo vệ dân phố) đi tuần tra trên địa bàn thì thấy Nguyễn Hữu K đang đi bộ tại Giao lộ Bùi Viện – Đề Thám, Phường Phạm Ngũ Lão, Quận 1 có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy nên yêu cầu về Công an Phường Phạm Ngũ Lão, Quận 1 làm rõ; tại trụ sở Công an phường Nguyễn Hữu Kdùng tay phải lấy ra 02 gói nylon chứa chất bột màu trắng và dùng tay trái lấy trong túi quần phía trước bên trái ra 01 gói nylon chứa chất bột màu trắng (Nguyễn Hữu Kkhai là Heroine) giao nộp nên Công an Phường Phạm Ngũ Lão, Quận 1 lập biên bản bắt người phạm tội quả tang (Bút lục 35, 36).

Theo bản Kết luận giám định số: 1385/KLGĐ-H ngày 08/7/2019 của Phòng

Kỹ thuật Hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh Kết luận như sau: Bột màu trắng trong 02 gói nylon là ma túy ở thể rắn, khối lượng 0,6013g, loại Heroine; bột màu trắng trong 01 gói nylon là ma túy ở thể rắn, khối lượng 0,1836g, loại Heroine.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 1, Nguyễn Hữu K khai nhận

toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên, lời khai của Nguyễn Hữu Kphù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Bản cáo trạng số: 144/CT-VKSQ1 ngày 03/10/2019 của Viện kiểm sát nhân

dân Quận 1 đã truy tố bị cáo Nguyễn Hữu K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh tụng:

Sau khi kiểm tra đầy đủ các chứng cứ buộc tội, gỡ tội và các tình tiết khác của vụ án, bị cáo đã thừa nhận hành vi sai trái do bị cáo gây ra tương tự như nội dung bản cáo trạng đã nêu, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Như vậy, hành vi phạm tội của bị cáo đã có đủ cơ sở để kết luận bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khỏa 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 01 (một) năm 06 tháng đến 02 (hai) năm tù, phạt tiền bị cáo 5.000.000 (năm triệu) đồng.

Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy 02 gói ma túy niêm phong ghi vụ số 1385/2019 (1);

1385/2019 (2) bên trong có 0,7849g ma túy, loại Heroine;

(Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 190/LNK-CAQ1-MT ngày 01/8/2019 và

Phiếu nhập kho vật chứng số: 262-19/PNK ngày 29/8/2019 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Quận 1).

- Trả lại cho bị cáo 01(một) điện thoại di động hiệu Samsung imei:

35620706456036 và số imei: 356208060456034 nhưng cần tiếp tục tạm giữ để

đảm bảo thi hành án về sau. (Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 178/LNK-CAQ1-

MT ngày 01/8/2019 và Phiếu nhập kho vật chứng số: 258-19/PNK ngày 23/7/2019

của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Quận 1)

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hữu K đã khai nhận hành vi phạm tội như kết

luận điều tra và cáo trạng truy tố, bị cáo không có ý kiến tranh tụng gì và nói lời

sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ

vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét, lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại

cơ quan Điều tra và vụ án còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ khác có

trong hồ sơ vụ án như các biên bản hoạt động điều tra, biên bản ghi lời khai, biên

bản hỏi cung, tờ tự khai, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám

định,… nên có căn cứ để Kết luận: Vào khoảng 20 giờ 15 phút ngày 29/6/2019 tại

Giao lộ Bùi Viện – Đề Thám, Phường Phạm Ngũ Lão, Quận 1, Nguyễn Hữu K có

hành vi cất giữ 0,7849g ma túy, loại Heroine để sử dụng cho bản thân, đã phạm

vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Hành vi của bị can đã xâm hại đến sự độc

quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, gây mất trật tự, an toàn xã

hội. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm trước pháp luật để răn đe giáo dục và phòng

ngừa chung. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Hồ Quốc Ký đã

phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định

tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân Quận 1

truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 1, Điều

tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 1, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy

tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng

hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về

hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó,

các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố

tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với quyết

tâm cao. Bị cáo đủ nhận thức để biết rõ tác hại của ma túy nhưng vì muốn thỏa

mãn với động cơ cá nhân nên bất chấp, xem thường pháp luật cố tình phạm tội.

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm hại đến chế độ quản lý độc quyền các chất gây

nghiện của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các tội phạm khác nên cần có mức án nghiêm để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tại cơ quan điều tra và tại phiên

tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình

sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”, do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải nộp một khoản tiền nhất định để sung quỹ Nhà nước.

Đối với người phụ nữ bán ma túy cho bị cáo Kỷ, quá trình điều tra chưa xác

định được nhân thân lai lịch, cơ quan Điều tra Công an Quận 1 tiếp tục xác minh làm rõ có cơ sở xử lý sau.

Vật chứng của vụ án:

- Đối với 02 gói ma túy niêm phong ghi vụ số 1385/2019 (1); 1385/2019 (2)

bên trong có 0,7849g ma túy, loại Heroine (Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 190/LNK-CAQ1-MT ngày 01/8/2019 và Phiếu nhập kho vật chứng số: 262-19/PNK ngày 29/8/2019 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Quận 1) cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01(một) điện thoại di động hiệu Samsung Imei: 35620706456036

và số Imei: 356208060456034 nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án về sau. (Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 178/LNK-CAQ1-MT ngày 01/8/2019 và Phiếu nhập kho vật chứng số: 258-19/PNK ngày 23/7/2019 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Quận 1). Xét thấy không liên quan đến vụ án nên xem xét để trả lại cho bị cáo nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án về sau.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Điều 135, khoản 2

Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều 21 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của

pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38;

Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Hữu K 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn

chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 29/6/1/2019.

Buộc bị cáo Nguyễn Hữu K phải nộp phạt 5.000.000 đồng (năm triệu đồng)

để sung vào công quỹ Nhà nước.

Việc bị cáo nộp số tiền phạt nêu trên phải được thực hiện một lần ngay sau

khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015,

Tịch thu tiêu hủy 02 gói ma túy niêm phong ghi vụ số 1385/2019 (1);

1385/2019 (2) bên trong có 0,7849g ma túy, loại Heroine (Theo Lệnh nhập kho vật

chứng số 190/LNK-CAQ1-MT ngày 01/8/2019 và Phiếu nhập kho vật chứng số:

262-19/PNK ngày 29/8/2019 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Quận 1)

(Theo Phiếu nhập kho vật chứng số: 262-19/PNK ngày 29/8/2019 của Công an

Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh).

Trả lại bị cáo 01(một) điện thoại di động hiệu Samsung Imei:

35620706456036 và số Imei: 356208060456034 (Theo Lệnh nhập kho vật chứng

số 178/LNK-CAQ1-MT ngày 01/8/2019 và Phiếu nhập kho vật chứng số: 258-

19/PNK ngày 23/7/2019 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Quận 1) nhưng

cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án về sau.

Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình Sự năm 2015 và

khoản 1 Điều 21 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc

Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí

Tòa án; bị cáo Nguyễn Hữu K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi

hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn thi

hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người

được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền phải thi hành

án, hàng tháng bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quá hạn do

Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành án theo quy

định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Áp dụng Điều 26 Luật thi hành án dân sự; trường hợp bản án, quyết định

được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo Nguyễn Hữu K được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15

ngày kể từ ngày tòa tuyên án.

Cỡ chữ