- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án hình sự sơ thẩm - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”;
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 157/2018/HS-ST Ngày: 14 - 11 - 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Cao Xuân Long
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thế Phương
2. Bà Phạm Thị Hiền
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 10 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 146/2018/HS-ST ngày 15 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn S (tên gọi khác: S chuột), sinh năm 1985, tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, hộ khẩu thường trú: Thôn X, xã Y, thị xã Z, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; cha Nguyễn Văn M, sinh năm 1955 và mẹ Nguyễn Thị D, sinh năm 1966; tiền án: không; tiền sự: không; bị bắt, tạm giam ngày 11/7/2018 (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn S (SN: 1985, HKTT: thôn X, xã Y, TX.Z, tỉnh BR-VT) là đối tượng nghiện ma túy. Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 10/7/2018, S đi đến khu vực khu công nghiệp Mỹ Xuân A thuộc phường M, TX.Phú Mỹ, tỉnh BR-VT gặp một người đàn ông tên T (không rõ nhân thân, lai lịch) mua 900.000 đồng (chín trăm nghìn đồng) tiền ma túy tổng hợp. Sau đó, S mang số ma túy trên về phòng trọ của mình tại thôn X, xã Y, thị xã Z, tỉnh BR-VT và lấy ra một ít sử dụng, số còn lại S chia thành 02 gói nhỏ với mục đích cất giấu để sử dụng dần.
Vào lúc 10 giờ 00 phút ngày 11/7/2018, lực lượng Công an TX.Phú Mỹ phối hợp với Công an xã TH kiểm tra phòng trọ của S thì phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Văn S đang tàng trữ trái phép chất ma túy và thu giữ của S 02 (hai) gói nilon hàn kín chứa chất ma túy dạng kết tinh, không màu. Cơ quan Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Văn S, lập biên bản thu giữ vật chứng và niêm phong số ma túy theo quy định của pháp luật.
Tại bản Kết luận giám định số 212/QĐMT-PC54 ngày 20/7/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh BR-VT kết luận: Mẫu chất kết tinh không màu, trong suốt chứa trong 02 (hai) gói nilon hàn kín niêm phong đựng trong phong bì màu trắng có hình dấu của Công an xã TH – Công an thị xã Phú Mỹ, tỉnh BR-VT; cùng các chữ ký ghi họ tên: Nguyễn Văn D, Nguyễn Đức V, Nguyễn Văn S, Đặng Hoàng V gửi đến giám định có khối lượng là 2,1221 gam là chất ma túy, loại Methamphetamine.
Đối tượng tên T (không rõ nhân thân, lai lịch) là người đã bán ma túy cho S hiện Cơ quan Công an đang tiếp tục điều tra, khi nào bắt giữ được sẽ xử lý sau.
Về xử lý vật chứng: 01 phong bì màu trắng, niêm phong đề số 212 ngày 20/7/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, bên trong chứa mẫu vật sau giám định gửi trả. Vật chứng trên đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ bảo quản, chờ xử lý theo quy định.
Tại bản cáo trạng số 159/CT-VKS ngày 11/10/2018, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ đã truy tố Nguyễn Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự 2015, xử phạt bị cáo S mức án từ 18 tháng đến 24 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 gói ma túy trong phong bì đã niêm phong số 212 ngày 20/7/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
Tại phiên tòa bị cáo S không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về kết luận giám định hay các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng truy tố, công nhận Viện kiểm sát truy tố đúng tội danh, không oan, xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an và Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Về tội danh:
Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 11/7/2018 tại phòng trọ của mình ở thôn X, xã Y, thị xã Z, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Nguyễn Văn S đã có hành vi cất giữ, cất giấu bất hợp pháp chất ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 2,1221 gam, nhằm mục đích sử dụng. Hành vi của bị cáo S thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xét tính chất, mức độ do hành vi phạm tội bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến việc quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tệ nạn xã hội và tội phạm khác liên quan đến ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an ninh tại địa phương. Ngoài ra, năm 2006, bị cáo đã bị Tòa án xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”, tuy bị cáo đã được xóa án tích, nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân, mà vẫn tiếp tục thực hiện phạm tội. Vì vậy cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.
Về tính tiết giảm nhẹ: Bị cáo S thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 giảm cho bị cáo một phần hình phạt.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo S là con nghiện nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền.
Về xử lý vật chứng: 01 phong bì đựng ma túy được niêm phong số 212 ngày 20/7/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cần tịch thu tiêu hủy;
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Vì các l trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”;
1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015; Xử phạt: Nguyễn Văn S 02 (Hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 11 tháng 7 năm 2018.
2. Xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Tịch thu tiêu hủy số ma túy được đựng trong 01 phong bì niêm phong số: 212 ngày 20/7/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
(Vật chứng nêu trên Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Mỹ quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng số 05 ngày 11/10/2018).
3. Án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;
Bị cáo Nguyễn Văn S phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
TM. HỘI Đ NG XÉT X S THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - VKSND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ( PV27); - Sở Tư pháp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; - VKSND thị xã Phú Mỹ; - Công an thị xã Phú Mỹ; - Chi cục THA thị xã Phú Mỹ: - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | (Đã ký tên và đóng dấu) Cao Xuân Long |