- Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Nhật K - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Huỳnh Nhật K phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ___________________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 156/2017/HSST Ngày: 14/11/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 - TP. HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Triệu Luật.
Các Hội thẩm Nhân dân:
1/Bà Trần Thị Thanh Thủy.
2/Ông Nguyễn Vi Tường Thụy.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa:
- Ông Nguyễn Hoài Anh - Cán bộ Tòa án nhân dân Quận 10.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 10 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:
- Bà Trần Thị Hương Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10 địa chỉ: 27 đường Thành Thái, Phường 14, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số: 127/2017/HSST ngày 05 tháng 10 năm 2017 đối với bị cáo:
Huỳnh Nhật K - Giới tính: Nam; sinh năm: 1970 tại Thừa Thiên Huế; thường trú: đường L, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: tài xế; trình độ học vấn: 12/12; con ông: Huỳnh L (chết); và bà: Hồ Thị H; có vợ: Phạm Thị Cẩm H và 03 con (lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2015); tiền án: 01 (ngày 24/7/2000 bị Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 15 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo bản án số 1645/HSPT); tiền sự: không; bị bắt giữ ngày: 24/6/2017.
(Bị cáo có mặt)
NHẬN THẤY:
Bị cáo bị Viện Kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Vào lúc 06 giờ 30 ngày 24/6/2017, tại phòng 303 khách sạn “Hoàng Anh” – địa chỉ: A7/K34 đường Trần Thiện Chánh, Phường 12, Quận 10, Đội CSĐTTPVMT Công an Quận 10 kết hợp với Công an Phường 12, Quận 10 kiểm tra hành chính, phát hiện trong phòng có Huỳnh Nhật K, Cam Hồng K1 và Trần Thị Kim Ph, thu giữ của Huỳnh Nhật K: 04 gói nylon bên trong chứa tinh thể rắn không màu; 02 gói nylon chứa chất bột màu trắng, 01 điện thoại di động hiệu LG có số thuê bao 0966090771, 01 bình nhựa, 01 nỏ thủy tinh, 01 quẹt gas. Vụ việc được Công an Phường 12, Quận 10 lập hồ sơ và chuyển đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 điều tra, làm rõ.
Tại Kết luận giám định số 1127/KLGĐ-H ngày 11/8/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hồ Chí Minh kết luận:
- Gói 1: Tinh thể không màu trong 04 gói nylon được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Huỳnh Nhật K và hình dấu Công an Phường 12, Quận 10 gửi đến giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng là 1,2312g loại Methamphetamine.
- Gói 2: Chất bột màu trắng ngà trong 02 gói nylon được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Huỳnh Nhật K và hình dấu Công an Phường 12, Quận 10 gửi đến giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng là 0,6037g loại Ketamine.
Quá trình điều tra xác định như sau: khoảng 20 giờ 40 ngày 22/6/2017, K gọi điện thoại nhờ H (không rõ lai lịch, địa chỉ) để liên lạc với đối tượng tên H1 mua ma túy; đến 21 giờ 00 cùng ngày, K mua ma túy của đối tượng tên H1 (không rõ lai lịch, địa chỉ) tại khu vực cầu Ông Lãnh, Quận 1 với giá 3.500.000 đồng để sử dụng; sau đó, K về khách sạn “Hoàng Anh” để lưu trú; đến khoảng 06 giờ 30 ngày 24/6/2017 thì Huỳnh Nhật K, Trần Thị Kim P và Cam Hồng K1 bị Công an kiểm tra và bắt giữ như trên.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 đã quyết định khởi tố điều tra đối với Huỳnh Nhật K về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Đối với Cam Hồng K1, Trần Thị Kim P không biết hành vi phạm tội của Huỳnh Nhật K nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 không xử lý hình sự.
Riêng các đối tượng tên H, H1 (không xác định rõ lai lịch, địa chỉ), Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 10 tiếp tục truy xét, khi nào bắt được sẽ xử lý sau.
Tại bản cáo trạng số 85/CT-VKS ngày 02 tháng 10 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành Phố Hồ Chí Minh đã truy tố: Huỳnh Nhật K về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 (được sửa đổi bổ sung năm 2009).
Tại phiên tòa hôm nay:
Bị cáo Huỳnh Nhật K đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình giống như lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh công bố bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Huỳnh Nhật K đúng theo nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, sau khi nêu lên những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo (thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải) và nhân thân của bị cáo; đã đề nghị áp dụng khoản 1, 5 Điều 194; khoản 1 Điều 49; điểm g khoản 1 Điều 48; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009); Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 3 Điều 7; khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Huỳnh Nhật K; xử phạt bị cáo Huỳnh Nhật K từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù, đồng thời phạt bổ sung bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp khác:
Đối với: 01 gói niêm phong (bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Huỳnh Nhật K và hình dấu Công an Phường 12, Quận 10), 01 gói niêm phong (bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Huỳnh Nhật K và hình dấu Công an Phường 12, Quận 10); là vật lưu hành bất hợp pháp; vậy đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; tịch thu, tiêu hủy.
Đối với: 01 chiếc điện thoại di động hiệu LG (số Imel: 353964-05-205673-6 và số thuê bao: 0966090771), là phương tiện dùng vào việc phạm tội; vậy đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; tịch thu, sung quỹ Nhà nước.
Đối với: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (01 bình nhựa, 01 nỏ thủy tinh, 01 hộp quẹt gas), là vật không đáng giá trị; vậy áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; tịch thu và tiêu hủy.
Lời nói sau cùng của bị cáo: rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
XÉT THẤY:
Tại Cơ quan điều tra, cũng như trước phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận hành vi của mình, qua lời khai nhận tội của bị cáo, đối chiếu với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, bản kết luận giám định, vật chứng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, là phù hợp với nhau, từ đó Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định: bị cáo Huỳnh Nhật K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Ma túy là mối hiểm họa cho gia đình và xã hội, nó đã lây lan và phát triển một cách nghiêm trọng, làm suy đồi và băng hoại nhân cách con người, là một trong những nguyên nhân dẫn đến các tội phạm hình sự khác; trong khi chính quyền nhân dân các cấp đang ra sức thực hiện mục tiêu 3 giảm: “Giảm ma túy, giảm mại dâm, giảm tội phạm”; nhưng bị cáo đã đi ngược lại mục tiêu chung trên, bị cáo đã có hành vi cất giữ trái phép: 1,2312g Methamphetamine + 0,6037g Ketamine = 1,8349g, chiếu theo danh mục các chất ma túy và tiền chất ban hành theo Nghị định số: 82/2013/NĐ - CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ thì đó là các chất ma túy ở thể rắn, qua lời khai của bị cáo thì số ma túy trên nhằm để sử dụng, nên bị cáo Huỳnh Nhật K bị truy tố và xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; ngoài ra Hội đồng xét xử cần nhận định như sau: theo hướng dẫn Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì kể từ ngày 03/7/2017 vẫn áp dụng nguyên tắc có lợi cho bị can, bị cáo theo quy định tại khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); như vậy căn cứ vào số lượng ma túy được thu giữ từ bị cáo là 1,8349g các chất ma túy ở thể rắn mà Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi bổ sung năm 2009), nhưng theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thuộc quy định có lợi cho người phạm tội; từ đó trong quá trình xét xử, Hội đồng xét xử sẽ áp dụng và xem xét đối với bị cáo, nhằm đảm bảo quyền con người theo quy định của Hiến pháp năm 2013, cũng như nguyên tắc có lợi cho bị cáo.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; ngoài ra, bị cáo có nhân thân xấu, cụ thể: ngày 24/7/2000 bị Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 15 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý, nhưng chưa được xóa án tích, nay lại tiếp tục phạm tội nghiêm trọng do cố ý, hành vi này là tái phạm theo quy định tại khoản 1 Điều 49 Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi bổ sung năm 2009), nên bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi bổ sung năm 2009). Do vậy cần phải kịp thời đưa ra xử lý trước pháp luật tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, cụ thể cần phải tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo, qua đó tác dụng răn đe, giáo dục đối với những người thực hiện hành vi tương tự, đồng thời đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tệ nạn tại địa phương; ngoài ra còn áp dụng khoản 5 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi bổ sung năm 2009), phạt bổ sung bị cáo một số tiền để sung quỹ Nhà nước.
Tuy nhiên, xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; vậy Hội đồng xét xử áp dụng điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi bổ sung năm 2009) giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về vật chứng:
Đối với: 01 gói niêm phong (bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Huỳnh Nhật K và hình dấu Công an Phường 12, Quận 10), 01 gói niêm phong (bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Huỳnh Nhật K và hình dấu Công an Phường 12, Quận 10); là vật lưu hành bất hợp pháp; vậy áp dụng điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; tịch thu, tiêu hủy.
Đối với: 01 chiếc điện thoại di động hiệu LG (số Imel: 353964-05-205673-6 và số thuê bao: 0966090771), là phương tiện dùng vào việc phạm tội; vậy áp dụng điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; tịch thu, sung quỹ Nhà nước.
Đối với: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (01 bình nhựa, 01 nỏ thủy tinh, 01 hộp quẹt gas), là vật không đáng giá trị; vậy áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; tịch thu và tiêu hủy.
Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo Huỳnh Nhật K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: bị cáo Huỳnh Nhật K phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng khoản 1, 5 Điều 194; khoản 1 Điều 49; điểm g khoản 1 Điều 48; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 (được sửa đổi bổ sung năm 2009); Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 3 Điều 7; khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) [điều khoản có lợi cho người phạm tội của Bộ luật hình sự năm 2015(được sửa đổi, bổ sung năm 2017)] đối với bị cáo Huỳnh Nhật K;
Xử phạt bị cáo Huỳnh Nhật K 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/6/2017.
Phạt bổ sung bị cáo K 5.000.000 (Năm triệu) đồng sung quỹ Nhà nước.
Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án), cho đến khi thi hành xong các khoản tiền nêu trên, thì bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi nợ quá hạn của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
- Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, tịch thu, tiêu hủy: 01 gói niêm phong (bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Huỳnh Nhật K và hình dấu Công an Phường 12, Quận 10), 01 gói niêm phong (bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Huỳnh Nhật K và hình dấu Công an Phường 12, Quận 10).
- Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; tịch thu và sung quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động hiệu LG (số Imel: 353964-05-205673-6 và số thuê bao: 0966090771).
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; tịch thu và tiêu hủy 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy (01 bình nhựa, 01 nỏ thủy tinh, 01 hộp quẹt gas.
(Tình trạng vật chứng, tài sản theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25/9/2017 giữa Công an Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Áp dụng khoản 2 Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc:
- Bị cáo K chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án.
Thời hạn kháng cáo là 15 ngày; đối với bị cáo tính từ ngày tuyên án./.
Nôi nhaän:
| - Sôû Tö phaùp TP.HCM; - Cuïc Haûi quan TP.HCM; - TAND TP.HCM; - VKSND Q.10; - Coâng an Q.10, PC.53; - Chi cuïc Thueá Q.10; - Chi cuïc THADS Q.10; - Người tham gia tố tụng; - Löu VP, hoà sô. | TM. HOÄI ÑOÀNG XEÙT XÖÛ SÔ THAÅM Thaåm phaùn - Chuû toïa phieân toøa (Đã ký) Nguyễn Triệu Luật |