vanban.org

Bản án 155/2024/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 8, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 13/08/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử ph t bị cáo Đặng Anh K (tám) năm 09 (ch n) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuýThời h n chấp hành hình ph t tù t nh từ ngày 13/10/2023

Xử ph t bị cáo Lê Bùi Anh V 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuýThời h n chấp hành hình ph t tù t nh từ ngày 11/10/2023 Ph t bị cáo Đặng Anh K số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng nộp vào ngân sách Nhà nước. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Anh K và ĐP 251 - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử ph t bị cáo Đặng Anh K (tám) năm 09 (ch n) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuýThời h n chấp hành hình ph t tù t nh từ ngày 13/10/2023
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 155/2024/HS-ST
Ngày 13 - 8 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thanh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Khoái

Bà Nguyễn Thị Kim Hồng

- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Quốc Thái – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Bùi Đức Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 8 năm 2024 t i tr s Tòa án nhân dân Qu n 8 Thành phố Hồ Ch Minh xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự sơ thẩm th lý số: 151HS ngày 0362024 theo Quyết định đưa v án ra xét xử số: 259QĐXXST-HS ngày 29 tháng 72024 đối với các bị cáo:

1. Đặng Anh K; năm sinh 1998, t i Thành phố H cư trú (nơi đăng ký thường trú: 102/3 Hồ B Phường A qu n P Thành phố H; chỗ : Không có nơi cư trú ổn định); nghề nghiệp: Làm công; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới t nh: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Xuân K1 và bà Ph m Thị Kim L; vợ con: Chưa có; tiền án tiền sự: Không; bị bắt t m giữ t m giam từ ngày 13/10/2023đến nay. (có mặt)

2. Lê Bùi Anh V; sinh năm 1998, t i Tiền Giang; nơi cư trú (nơi đăng ký thường trú: Ấp A xã M huyện C tỉnh Tiền Giang; chỗ : Không có nơi cư trú ổn định); nghề nghiệp: Sinh viên; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới t nh: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Phong Vũ Kim T và bà Bùi Thị M; vợ con: Chưa có; tiền án tiền sự: Không; bị bắt t m giữ t m giam từ ngày 11/10/2023đến nay. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến t i phiên tòa nội dung v án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 21 giờ 00 phút ngày 10/10/2023 Tổ tuần tra Công an P, Qu n H Thành phố Hồ Ch Minh tuần tra đến trước số A Đường C P Phường G Qu n H thì phát hiện Ph m Vương Tri  có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu kiểm tra. Do  không xuất trình được giấy tờ tùy thân nên Công an Phường 7 mời  về tr s Công an phường để làm rõ. T i Công an P, Qu n H,  khai nh n đang đứng chờ để nh n ma túy lo i “Bồ đà” của một người tên Lê Bùi Anh V,  mua về sử d ng.

Vào lúc 21 giờ 00 phút ngày 10/10/2023 Tổ tuần tra Công an P, Qu n H tuần tra đến trước số A Đường B T Phường G Qu n H thì phát hiện Lê Bùi Anh V đang điều khiển xe gắn máy biển số: 77S2-7998 có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Qua kiểm tra Công an phát hiện trong túi vải màu xanh - vàng in chữ “MILO” mà V đang đeo trên người có 01 gói nylon bên trong chứa thảo mộc khô cắt nhuyễn (V khai nh n là ma túy lo i “Bồ đà” V đang đi giao cho khách). Ngoài ra Công an còn t m giữ của V 01 điện tho i di động 01 túi vải màu xanh - vàng in chữ “MILO” và 01 xe gắn máy biển số: 77S2-7998. Sau đó Công an tiến hành dẫn giải Vũ và đưa v t chứng về tr s Công an P, Qu n H để l p biên bản bắt người ph m tội quả tang.

Qua điều tra Lê Bùi Anh V khai nh n: Nguồn gốc số ma túy Công an phát hiện thu giữ của V là do Đặng Anh K đưa cho V để đi giao cho Ph m Vương Tri  vào tối ngày 10/10/2023, K sẽ trả công cho V số tiền 100.000 đồng. V đồng ý và đi đến nhà địa chỉ: 1 N phường C Qu n A gặp K để lấy ma túy đi giao cho  trên đường mang ma túy đi giao cho  thì bị Công an bắt quả tang như trên.

Đội Cảnh sát điều tra tội ph m về ma túy Công an Q phối hợp với Công an P, Qu n H tiến hành đưa Lê Bùi Anh V xác định vị tr địa điểm nơi mà V gặp K để lấy ma túy. Qua chỉ điểm Công an xác định nơi V gặp K để lấy ma túy là t i số A N phường C Qu n A.

Vào khoảng 02 giờ ngày 11/10/2023 Đội Cảnh sát điều tra tội ph m về ma túy Công an Q cùng Công an P, Qu n H phối hợp với Công an phường C, Qu n A kiểm tra hành ch nh nhà số: 1 N phường C Qu n A. T i thời điểm kiểm tra trong nhà có mặt Đặng Anh K. Qua kiểm tra t i phòng ngủ của K trên lầu 3 K tự giác lấy ra giao nộp cho Công an 01 gói nylon màu xám đựng thảo mộc khô cắt nhuyễn (K khai nh n là ma túy “Bồ đà” dùng để bán). Ngoài ra Công an còn t m giữ của Khoa 01 điện tho i di động. Sau đó Công an tiến hành dẫn giải K và đưa v t chứng về tr s Công an phường C, Qu n A để làm rõ.

Ngày 12/10/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q phối hợp với Công an phường C, Qu n A thi hành lệnh khám xét khẩn cấp chỗ của Đặng Anh K t i địa chỉ: 1 N phường C Qu n A. Qua khám xét Công an không phát hiện thu giữ thêm v t chứng gì có liên quan.

Tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy xác định Đặng Anh K, Lê Bùi Anh V và Ph m Vương Tri  kết quả dương t nh với chất ma túy lo i Tetrahydrocannabinol.

T i kết lu n giám định số 11355/KL-KTHS ngày 19/10/2023, Phòng Kỹ thu t hình sự Công an Thành phố H kết lu n:

- Thảo mộc khô trong 01 gói nylon để trong 01 gói niêm phong bên ngoài có các chữ ký ghi tên Lê Bùi Anh V, Đặng Anh K và hình dấu Công an P, Qu n H là cần sa có khối lượng 4 7499g (bốn phẩy bảy bốn ch n ch n gam).

- Thảo mộc khô trong 01 gói nylon màu xám để trong 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Đặng Anh K và hình dấu Công an phường C, Qu n A là cần sa có khối lượng 25 27g (hai năm phẩy hai bẩy gam).

Quá trình điều tra Đặng Anh K khai nh n: Bản thân K không có nghề nghiệp ổn định do cần tiền tiêu xài nên K nảy sinh ý định mua bán trái phép chất ma túy để thu lợi bất ch nh từ đầu tháng 9/2023 đến khi bị Công an bắt. Vào đầu tháng 9/2023 K sử d ng tài khoản m ng xã hội “Facebook” cá nhân tên “Anh K” truy c p vào nhóm “420 M” để tìm thông tin mua ma túy lo i “Bồ đà” mang về nhằm bán kiếm lời. Qua tìm kiếm K biết được một người sử d ng tài khoản “Facebook” (không rõ tên sử d ng tài khoản không ch nh chủ và không có thông tin) có bán “Bồ đà” nên K hỏi mua “Bồ đà” với giá 2.000.000 đồng. Sau khi thỏa thu n xong thì K hẹn người bán giao ma túy cho K t i địa chỉ: 1 N, phường C Qu n A. Sau đó người bán đặt xe công nghệ “G” giao cho K 01 kiện hàng là 01 gói nylon màu xám đựng “Bồ đà” và K gửi người giao hàng số tiền 2.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy K mang về phòng ngủ của K t i địa chỉ: 1 N phường C Qu n A và lấy một phần trong đó phân lẻ thành 03 gói nhỏ để mang ra khu vực đường B Qu n A bán cho khách cần mua với giá 100.000 đồng/gói. Số ma túy còn l i K2 cất giấu trong phòng ngủ của K và đợi khi có khách liên l c thì K sẽ tiếp t c phân ra bán theo yêu cầu của khách hoặc K sẽ phân chia sẵn và mang đến khu vực đường B Qu n A để bán cho khách. K đã bán hết 03 gói “Bồ đà” t i khu vực đường B Qu n A thu được 400.000 đồng (02 lần Khoa trực tiếp đưa cho khách và 01 lần Khoa nhờ V giao cho khách và trả công cho V 100.000 đồng). Số tiền bán ma túy có được K đã tiêu xài cá nhân hết. Nếu bán hết số Bồ đà đã mua thì K sẽ thu về 3.500.000 đồng lời 1.500.000 đồng.

Đặng Anh K, Lê Bùi Anh V và Ph m Vương Tri  cùng khai nh n: Khoa quen biết Lê Bùi Anh V được 03 tháng và quen  được 02 tháng. V đã ph giúp K bán ma túy cho khách được 02 lần c thể như sau:

- Lần thứ nhất: Vào khoảng 02 giờ ngày 18/9/2023 K đang ngồi uống cà phê với V t i khu vực đường B Qu n A thì có một người đàn ông (Khoa không nhớ rõ lai lịch địa chỉ) đến gặp K hỏi mua “Bồ đà” K nói giá bán 200.000 đồng thì người đàn ông đồng ý và K nói người đàn ông quay l i bàn ngồi sẽ có người giao. Sau đó K lấy “Bồ đà” có sẵn bỏ vào 01 gói nylon và nhờ V mang đến bàn của người đàn ông trên để bán và nh n về số tiền 200.000 đồng nh n được tiền K trả công cho V 100.000 đồng.

- Lần thứ hai: Sáng ngày 10/10/2023 K có đến gặp một người b n tên Ph m Vương Tri  để lấy số tiền 1.100.000 đồng mà  nợ K khi mua điện tho i di động Khoa bán trước đó. Do không có tiền trả nên  đưa cho K xe gắn máy biển số 77S2-7998 để Khoa giữ làm tin và hẹn tối sẽ trả cho K số tiền 1.100.000 đồng. K đồng ý điều khiển xe gắn máy trên về nhà địa chỉ: 1 N phường C Qu n A. Khoảng 16 giờ 29 phút, cùng ngày,  sử d ng m ng xã hội “Zalo” tên tài khoản là Đ liên l c với K hỏi mua 01 gói “Bồ đà” với giá 600.000 đồng đồng thời hẹn trả tiền nợ trước đó cho K. K đồng ý bán và hẹn khoảng 21 giờ sẽ giao “Bồ đà”cho Â. Vào khoảng 19 giờ 54 phút ngày 10/10/2023 K sử d ng số thuê bao: 0934842053 gọi đến số thuê bao của V: 0898797900 kêu V đi giao “Bồ đà” cho  và K nói sẽ trả công cho V 100.000 đồng sau khi giao được ma túy thì V đồng ý. Sau đó K phân lẻ 01 gói nylon chứa “Bồ đà” theo yêu cầu của  từ gói “Bồ đà” lớn K mua trước đó. Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày V vào nhà gặp K thì K đưa cho V 01 gói nylon chứa “Bồ đà” và yêu cầu V giao gói ma túy này cho  trên đường T Phường G Qu n H đồng thời đưa xe gắn máy biển số: 77S2-7998 cho  (K nói với V là xe gắn máy do  cầm cho K do thiếu tiền của K) và nh n về số tiền 1.700.000 đồng gồm 600.000 đồng tiền  mua ma túy và 1.100.000 đồng tiền Ân nợ K. V đồng ý nh n gói ma túy và cất giấu vào túi vải màu vàng - xanh hiệu “MILO” đang đeo trên người. Sau đó V điều khiển xe gắn máy biển số: 77S2-7998 đến địa điểm đã hẹn để giao ma túy cho Â. Đến khoảng 21 giờ 00 phút cùng ngày khi V điều khiển xe gắn máy trên đến trước số A Đường B T Phường G Qu n H thì bị bắt quả tang.

Cùng lúc đó Ph m Vương Tri  đang đứng đợi nh n ma túy của V thì cũng bị Công an P, Qu n H phát hiện mời về làm việc. Đây là lần đầu tiên  đặt mua ma túy của K.

V t chứng trong v án:

- 01 gói niêm phong ghi số 2212/Q8 (gói 1) bên ngoài có các chữ ký ghi tên Lê Bùi Anh V, Đặng Anh K và hình dấu của Công an P, Qu n H các chữ ký cán bộ Ph m Hoàng K3 và giám định viên Lê Thị H.

- 01 gói niêm phong ghi số 2212/Q8 (gói 2) bên ngoài có chữ ký ghi tên Đặng Anh K và hình dấu của Công an phường C, Qu n A các chữ ký ghi tên cán bộ Ph m Hoàng K3 và giám định viên Lê Thị H.

- 01 điện tho i di động hiệu Iphone có số IMEI: 355422072229492 t m giữ của Lê Bùi Anh V có dùng liên hệ mua bán ma túy;

- 01 túi vải màu xanh – vàng ghi chữ “MILO” t m giữ của Lê Bùi Anh V, có dùng để cất giấu ma túy;

- 01 điện tho i di động hiệu “Samsung” có số IMEI: 357368581555943 t m giữ của Đặng Anh K có dùng liên hệ mua bán ma túy;

- 01 xe gắn máy biển số: 77S2-7998 số khung: 00810088785 số máy: 1P52FMH10088785, do anh Thái Văn T1 đứng tên chủ s hữu đăng ký vào tháng 10/2015. Tuy nhiên, vào tháng 7/2022, anh T1 không sử d ng xe nữa nên đã bán l i cho chị Nguyễn Thị Tường V1. Sau khi mua xe chị V1 chưa làm thủ t c sang tên đổi chủ. Đến khoảng tháng 12/2022 chị V1 không còn sử d ng xe trên nữa nên đã bán l i cho bà Ph m Thị H1 (là mẹ của Ph m Vương Tri Â) và cũng chưa làm thủ t c sang tên đổi chủ. Ngày 03/5/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q Quyết định xử lý v t chứng bằng hình thức trả l i xe trên cho bà Ph m Thị H1.

T i bản Cáo tr ng số 150-Q8 ngày 03/6/2024Viện kiểm sát nhân dân Q1, Thành phố Hồ Ch Minh truy tố các bị cáo Đặng A1 KhoaLê Bùi Anh V về tội “Mua bán trái phép chất ma tuýtheo các điểm b c khoản 2 Điều 251Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

T i phiên tòa

Kiểm sát viên đ i diện Viện kiểm sát nhân dân Qu n 8 Thành phố Hồ Ch Minh giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Đặng A1 KhoaLê Bùi Anh V về tội “Mua bán trái phép chất ma tuýĐ i diện Viện kiểm sát rút một phần nội dung truy tố đối với tình tiết ph m tội “đối với 02 người tr lên” quy định t i điểm c Khoản 2 Điều 251 Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bộ S năm 2017).

Sau khi phân t ch đánh giá t nh chất mức độ nguy hiểm của hành vi ph m tội Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp d ng điểm b khoản 2 khoản 5 Điều 251điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 58 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) xử ph t bị cáo Đặng A1 Khoatừ 09 năm đến 10 năm tù và xử ph t bị cáo Lê Bùi Anh V từ 08 năm đến 09 năm tù;

Ph t bổ sung mỗi bị cáo số tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng và buộc bị cáo V nộp l i số tiền thu lợi bất ch nh 100.000 đồng. Đối với số tiền thu lợi bất ch nh của bị cáo K do chỉ có lời khai duy nhất của bị cáo nên không có căn cứ xác định và buộc bị cáo nộp l i số tiền thu lợi bất ch nh là 300.000 đồng.

Về xử lý v t chứng đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy 01 túi vải màu xanh - vàng thu giữ của các bị cáo; tịch thu nộp ngân sách Nhà nước đối với 01 điện tho i di động hiệu S1 t m giữ của bị cáo K và 01 điện tho i di động hiệu Iphone t m giữ của bị cáo V.

Các bị cáo không có ý kiến tranh lu n; các bị cáo thừa nh n hành vi ph m tội ăn năn hối cải và xin giảm nhẹ hình ph t.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung v án căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng t i phiên tòa Hội đồng xét xử nh n định như sau:

Về hành vi quyết định tố t ng của Cơ quan điều tra Công an Q Điều tra viên Viện kiểm sát nhân dân Qu n 8 Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự thủ t c quy định của Bộ lu t tố t ng hình sự. Quá trình điều tra truy tố và t i phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu n i về các hành vi quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng người tiến hành tố t ng. Do đó các hành vi quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.

T i phiên tòa Đ i diện Viện Kiểm sát thay đổi Cáo tr ng rút l i một phần truy tố các bị cáo về tình tiết ph m tội “đối với 02 người tr lên” theo điểm c Khoản 2 Điều 251 Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Hội đồng xét xử nh n thấy theo hướng dẫn t i M c 3 Công văn số 89/TANDTC-PC ngày 30/6/2020 của Tòa án nhân dân tối cao thì tình tiết ph m tội “đối với 02 người tr lên” quy định t i điểm c Khoản 2 Điều 251 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) được hiểu là trong một lần ph m tội bị cáo bán ma túy cho từ 02 người tr lên. Trong v án này các bị cáo thực hiện 02 lần mua bán trái phép chất ma túy trong 02 ngày với 02 người khác nhau do đó không có căn cứ áp d ng tình tiết ph m tội “đối với 02 người tr lên”. Việc rút một phần nội dung truy tố của đ i diện Viện kiểm sát t i phiên tòa không làm xấu đi tình tr ng của các bị cáo phù hợp Điều 306 Bộ lu t tố t ng Hình sự nên có căn cứ chấp nh n.

T i phiên tòa các bị cáo đã khai nh n hành vi phù hợp với lời khai t i cơ quan điều tra phù hợp với lời khai người làm chứng và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ v án xác định:

Vào lúc 21 giờ ngày 10/10/2023 t i trước số A Đường B T Phường G Qu n H Thành phố Hồ Ch Minh bị cáo Lê Bùi Anh V có hành vi cất giữ trái phép ma túy lo i cần sa có khối lượng 4 7499 gam m c đ ch để bán thì bị phát hiện bắt quả tang. Qua điều tra xác định số ma túy này là của bị cáo Đặng Anh K giao cho bị cáo V để V mang đi bán cho Ph m Vương Tri Â, V được trả công 100.000 đồng.

Vào khoảng 02 giờ 00 phút ngày 11/10/2023 t i nhà số A N phường C Qu n A Thành phố Hồ Ch Minh bị cáo Đặng Anh K có hành vi cất giữ trái phép ma túy lo i cần sa có khối lượng 25 27 gam m c đ ch để bán.

Như v y khối lương ma túy bị cáo K phải chịu trách nhiệm là 30 0199 gam là số ma túy bị cáo cất giữ t i nhà và số ma túy bị cáo giao cho V để V mang đi bán; khối lương ma túy bị cáo V phải chịu trách nhiệm là 4 7499gam lo i cần sa.

Quá trình điều tra xác định ngoài lần bị bắt quả tang ngày 10/10/2023 khi đang đi bán ma túy giúp cho bị cáo K (bán cho Ph m Vương Tri Â) trước đó bị cáo V đã giúp sức cho bị cáo K bán 01 gói ma túy cho một người đàn ông (không rõ lai lịch) vào ngày 18/9/2023 t i khu vực đường B Qu n A Thành phố Hồ Ch Minh. Lời khai của các bị cáo là phù hợp với nhau đều xác định bị cáo V đã giúp sức cho bị cáo K bán ma túy 02 lần vào các ngày 18/9/2023 và 10/10/2023 đây là tình tiết định khung hình ph t “ph m tội 02 lần tr lên” của tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Điều 251 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) quy định về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” như sau:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

...

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng…”

Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện hành vi với lỗi cố ý đã xâm ph m đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy và an toàn xã hội. Như v y Hội đồng xét xử có căn cứ xác định hành vi của các bị cáo Đặng Anh K, Lê Bùi Anh V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tội ph m và hình ph t được quy định t i điểm b khoản 2 Điều 251của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Hành vi ph m tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội xét t nh nghiêm trọng của tội ph m mà các bị cáo đã thực hiện cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định bằng hình ph t tù có thời h n nhằm cải t o giáo d c các bị cáo tr thành người có ch có ý thức tuân theo pháp lu t và các quy tắc của cuộc sống ngăn ngừa ph m tội mới; đồng thời phòng ngừa và đấu tranh chống tội ph m trong xã hội.

Cáo tr ng Viện kiểm sát truy tố các bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là có cơ s đúng người đúng tội. Tuy nhiên mức hình ph t mà Viện kiểm sát đề nghị áp d ng đối với các bị cáo là có phần nghiêm khắc. B i lẽ quá trình điều tra truy tố và t i phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải; các bị cáo có nhân thân tốt; bị cáo V ph m tội với vai trò đồng ph m giúp sức mức độ hư ng lợi không lớn khi ph m tội đang là sinh viên. Do đó Hội đồng xét xử áp d ng điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình ph t cho các bị cáo.

Các bị cáo ph m tội thuộc trường hợp có đồng ph m nhưng mang t nh nhất thời giản đơn. Bị cáo K là người chủ động tìm nguồn mua ma túy cung cấp ma túy cho bị cáo V mang đi bán; bị cáo V là người g úp sức cho bị cáo K bán ma túy nhằm hư ng lợi. Do đó Hội đổng xét xử áp d ng Điều 58 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) để xem xét quyết định hình ph t cho phù hợp với t nh chất vai trò của từng bị cáo.

Về hình ph t bổ sung xét hành vi ph m tội của các bị cáo là nhằm thu lợi bất ch nh nên Hội đồng xét xử áp d ng hình ph t bổ sung là ph t tiền đối với bị cáo.

Về số tiền thu lợi bất ch nh của bị cáo V Hội đồng xét xử nh n thấy sau khi giúp bị cáo K bán ma túy cho khách bị cáo V được bị cáo K trả tiền công 100.000 đồng bị cáo K và bị cáo V đều thống nhất lời khai về khoản tiền thu lợi này do đó cần buộc bị cáo V nộp l i số tiền thu lợi bất ch nh 100.000 đồng để tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. Về số tiền thu lợi bất ch nh của bị cáo K do chỉ có lời khai duy nhất của bị cáo K về số tiền thu lợi bất ch nh nên chưa đủ căn cứ buộc bị cáo K nộp l i số tiền này.

Về v t chứng v án quá trình điều tra thu giữ số ma túy trong các gói niêm phong số 2212/Q8 (gói 1) và 2212/Q8 (gói 2); 01 túi vải màu xanh-vàng xét đây là v t cấm tàng trữ lưu hành v t dùng để cất giữ trái phép ma tuý nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ lu t Tố t ng hình sự tịch thu tiêu hủy.

01 điện tho i di động hiệu S1 t m giữ của bị cáo K và 01 điện tho i di động hiệu Iphone t m giữ của bị cáo V xét các bị cáo có dùng làm phương tiện liên l c mua bán ma túy nên căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ lu t Tố t ng hình sự tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Đối với người bán ma túy cho bị cáo K và người ch y xe G giao ma túy cho bị cáo do không xác định được lai lịch Cơ qua điều tra chưa đủ cơ s để xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét trong v án này.

Đối với Ph m Vương Tri  là người nghiện ma túy nhưng không liên quan đến hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” do Lê Bùi Anh V và Đặng Anh K thực hiện lượng ma túy mà  mua sử d ng chưa đủ định lượng xử lý tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Trước đó  chưa bị xử lý hành ch nh hay có tiền án về hành vi liên quan đến ma túy. Vì v y Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã bàn giao  cho Công an P, Qu n H xử ph t hành ch nh về hành vi “Sử d ng trái phép chất ma túy” là có căn cứ.

Về án ph hình sự sơ thẩm: Căn cứ quy định t i Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc hội bị cáo phải chịu án ph hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm b khoản 2 khoản 5 Điều 251điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 58 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Xử ph t bị cáo Đặng Anh K (tám) năm 09 (ch n) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuýThời h n chấp hành hình ph t tù t nh từ ngày 13/10/2023

Xử ph t bị cáo Lê Bùi Anh V 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuýThời h n chấp hành hình ph t tù t nh từ ngày 11/10/2023

Ph t bị cáo Đặng Anh K số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng nộp vào ngân sách Nhà nước.

Ph t bị cáo Lê Bùi Anh V số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng nộp vào ngân sách Nhà nước.

- Căn cứ vào Điều 47 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ lu t Tố t ng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 gói niêm phong ghi số 2212/Q8 (gói 1) bên ngoài có các chữ ký ghi tên Lê Bùi Anh V, Đặng Anh K và hình dấu của Công an P, Qu n H, các chữ ký ghi tên cán bộ Ph m Hoàng K3 và giám định viên Lê Thị H.

+ 01 gói niêm phong ghi số 2212/Q8 (gói 2) bên ngoài có chữ ký ghi tên Đặng Anh K và hình dấu của Công an phường C, Qu n A các chữ ký ghi tên cán bộ Ph m Hoàng K3 và giám định viên Lê Thị H.

+ 01 túi vải màu xanh – vàng ghi chữ “MILO”.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước:

+ 01 điện tho i di động hiệu Iphone có số IMEI: 355422072229492;

+ 01 điện tho i di động hiệu “Samsung” có số IMEI: 357368581555943;

(Theo Biên bản giao - nh n tang tài v t ngày 07/6/2024 t i Chi c c Thi hành án dân sự Qu n 8).

- Căn cứ vào các điều 135 136 của Bộ lu t Tố t ng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc hội.

Buộc mỗi bị cáo Đặng Anh K, Lê Bùi Anh V nộp 200.000 đồng án ph hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong h n 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ