- Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Cảnh L - Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo: Dương Cảnh L 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 155/2023/HS-ST Ngày 25 - 9 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Hoa
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Thanh Thảo
2. Bà Dương Triều Xuân
- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Quốc Thái - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 187/2023/TLST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 255/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2023, đối với bị cáo:
Dương Cảnh L, sinh năm 1979, tại Tiền Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 199/2 Đường X, Phường X1, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi ở: Không có nơi cư trú ổn định; nghề nghiệp: Không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 8/12; con ông Dương Cảnh Q và bà Nguyễn Thị M; có vợ (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 23/01/2008, Tòa án nhân dân Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 năm, về tội “Đánh bạc”. Đã nộp xong các khoản án phí, tiền phạt vào ngày 24/3/2009.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/5/2023 đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Bà Trần Thị Ngọc Q, sinh năm 2004; địa chỉ: Tổ Y, ấp Y1, xã Y2, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang; tạm trú: Căn hộ A1, Chung cư A1, số 35 Đường Z, Phường Z1, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
2. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 2001; địa chỉ: Ấp R, xã R1, huyện R2, thành phố Cần Thơ; tạm trú: B1 Chung cư B, số 854 Đường F, Phường F1, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Dương Cảnh L là đối tượng nghiện ma túy, để có tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng, L nảy sinh ý định mua ma túy tổng hợp bán lại cho người nghiện để kiếm lời. Khoảng 01 giờ 40 phút, ngày 06/5/2023, L đang ở nhà tại địa chỉ 199/2 Đường X, Phường X1, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh, thì nhận cuộc gọi qua mạng xã hội Zalo có tên “My Trần” của Trần Thị Ngọc Q hỏi mua ma túy tổng hợp loại Kay của L với giá 2.200.000 đồng. L biết Q đang làm tiếp viên tại quán nhậu và muốn chiếm được tình cảm với Q nên L đồng ý bán ma túy cho Q không lấy tiền lời, hẹn giao ma túy tại trước sảnh chung cư Central Premium, Phường 5 Quận 8.
Sau đó, L điều khiển xe mô tô biển số 59L3 - 399.63 đến ngã tư đường Nguyễn Trãi
- Nguyễn Văn Cừ, Quận 5 gặp một người đàn ông tên K (không rõ lai lịch, L không nhớ số điện thoại di động) mua 01 gói ma túy tổng hợp loại Kay với giá 2.200.000 đồng. L hẹn K sau khi bán gói ma túy sẽ thanh toán tiền cho K. Đến khoảng 02 giờ 30 phút, ngày 06/5/2023, L điều khiển xe mô tô đến trước sảnh chung cư Central Premium, Phường 5, Quận 8 ngồi chờ Q đi ra nhận ma túy thì bị Công an Phường 5, Quận 8 phát hiện, nghi vấn nên yêu cầu kiểm tra. Lúc này, L thả gói ma túy từ trên tay trái xuống đất thì bị Công an phát hiện bắt quả tang.
Vào lúc 02 giờ 40 phút, ngày 06/5/2023, tại trước sảnh chung cư Central Premium, Công an Phường 5, Quận 8 phát hiện Trần Thị Ngọc Q và Nguyễn Thị N có biểu hiện nghi vấn liên quan vụ án mua bán trái phép chất ma túy do Dương Cảnh L thực hiện nên mời về trụ sở Công an phường làm việc. Q và N khai nhận cùng nhau hùn tiền và đang đi ra trước sảnh chung cư Central Premium để tìm gặp người bán ma túy mang mua ma túy về căn hộ chung cư để sử dụng. Trong đó, Q là người sử dụng nick zalo tên “My Trần” liên lạc đến nick zalo tên “A Minh” gặp Dương Cảnh L hẹn đặt mua 01 gói ma túy tổng hợp loại Kay với giá 2.200.000 đồng, L hẹn mang ma túy qua giao tại trước sảnh chung cư Central Premium.
Quá trình điều tra, Dương Cảnh L khai nhận: Tính đến ngày bị bắt, L đã bán ma túy tổng hợp được khoảng 30 ngày và chỉ có 02 khách mua ma túy của L là Trần Thị Ngọc Q và một người phụ nữ khác (không rõ lai lịch). L bán ma túy tổng hợp cho Q được 02 lần:
- Lần thứ nhất: Khoảng 23 giờ 00 phút, ngày 06/4/2023, tại trước sảnh chung cư Saigon Royal, Phường 12, Quận 4, L bán cho Q 01 gói ma túy tổng hợp loại Kay với giá 2.200.000 đồng và 01 viên thuốc lắc giá 250.000 đồng; gói ma túy loại Kay L mua giá 2.200.000 đồng, bán 2.200.000 đồng, không tính lời; viên thuốc lắc L mua giá 220.000 đồng, bán 250.000 đồng, thu lời 30.000 đồng.
- Lần thứ hai, vào ngày 06/5/2023, khi L hẹn và đang chuẩn bị giao ma túy cho Q thì bị Công an phát hiện bắt giữ như trên. Đối với người phụ nữ không rõ lai lịch thì L bán được 01 lần gồm 02 viên thuốc lắc, L mua giá 220.000 đồng, bán giá 250.000 đồng, thu lời 30.000 đồng. Tổng cộng L thu lời 90.000 đồng, đã tiêu xài hết.
Riêng Trần Thị Ngọc Q khai nhận đã 06 lần mua ma túy tổng hợp của Dương Cảnh L, với 05 lần đặt mua ma túy tổng hợp loại Kay với giá 2.200.000 đồng và 01 viên thuốc lắc giá 250.000 đồng, hẹn mang qua giao tại trước sảnh chung cư Saigon Royal, trong khoảng thời gian từ ngày 20/3/2023 cho đến ngày 06/5/2023. Đến lần thứ sáu thì bị Công an phát hiện như trên.
Tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy có trong nước tiểu đối với Dương Cảnh L, Trần Thị Ngọc Q và Nguyễn Thị N cho kết quả L dương tính với chất ma túy tổng hợp; Q và N âm tính với chất ma túy tổng hợp.
Tại kết luận giám định số 4744/KL-KTHS ngày 14/5/2023, Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Tinh thể màu trắng trong 01 nylon được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Dương Cảnh L và hình dấu Công an Phường 5, Quận 8 là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 2,0076 gam, loại Ketamine.
Ngày 11/5/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định khởi tố bị can, áp dụng biện pháp tạm giam đối với Dương Cảnh L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Việc tạm giữ, xử lý vật chứng:
+ 01 gói niêm phong chứa ma túy bên ngoài ghi ký hiệu 1051/23 chữ ký ghi tên Dương Cảnh L, hình dấu Công an Phường 5, Quận 8;
+ 01 điện thoại di động hiệu Iphone gắn sim 0905787868 của Dương Cảnh L dùng làm phương tiện liên lạc mua bán trái phép chất ma túy;
+ 01 xe mô tô biển số 59L3-399.63, số máy: G3D4E477853, số khung: RLCUG0610HY456737 tạm giữ của Dương Cảnh L. Qua xác minh, xe do Phạm Thanh T đứng tên đăng ký vào ngày 19/01/2022. Hiện nay, cả gia đình T bán nhà rời khỏi địa phương đi đâu không rõ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 không ghi được lời khai của anh T. Cơ quan điều tra có văn bản đề nghị đăng thông báo tìm chủ sở hữu xe mô tô trên nhưng chưa có kết quả. Dương Cảnh L khai nhận, vào khoảng tháng 7/2022, L nhận cầm cố xe mô tô trên của một người nam thanh niên tên T với giá 10.000.000 đồng nhưng T không chuộc lại, do đó L sử dụng xe trên làm phương tiện đi lại và đi mua bán ma túy.
Tại bản Cáo trạng số 183/CT-VKS ngày 13/9/2023, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Dương Cảnh L về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, theo Điểm b Khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử như sau:
Áp dụng Điểm b Khoản 2, Khoản 5 Điều 251; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo từ 07 (bảy) năm 09 (chín) tháng đến 08 (tám) năm 09 (chín) tháng; phạt bổ sung bị cáo số tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.
Bị cáo khai báo về hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã được tóm tắt như trên, không tự bào chữa, không tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 8, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, các đương sự không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Căn cứ Kết luận giám định số 4744/KL-KTHS ngày 14/5/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh, tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đồng thời tại phiên tòa bị cáo tự khai như sau:
Khoảng 02 giờ 30 phút, ngày 06/5/2023, tại trước sảnh chung cư Central Premium, đường Đường F, Phường F1, Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Dương Cảnh L có hành vi cất giữ trái phép ma túy để bán lại cho Trần Thị Ngọc Q thì bị bắt quả tang.
Căn cứ Kết luận giám định số 4744/KL-KTHS ngày 14/5/2023, Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh xác định khối lượng ma túy thu giữ của bị cáo là 2,0076 gam, là ma túy ở thể rắn, loại Ketamine.
Ngoài ra, Dương Cảnh L và Trần Thị Ngọc Q cùng thừa nhận, vào khoảng 23 giờ 00 phút, ngày 06/4/2023, tại trước sảnh chung cư Saigon Royal, Phường 12, Quận 4, L đã bán cho Q 01 gói ma túy tổng hợp loại Kay với giá 2.200.000 đồng và 01 viên thuốc lắc giá 250.000 đồng.
Do vậy, có đủ căn cứ xác định bị cáo phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, tội phạm về ma túy gây tác hại lớn cho con người và xã hội, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Do vậy, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ dài mới có đủ sức giáo dục phòng ngừa chung trong xã hội.
Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do vậy Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có, tuy nhiên, bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị kết án về tội “Đánh bạc” nên đây là tình tiết cân nhắc khi Hội đồng xét xử quyết định hình phạt đối với bị cáo cho phù hợp với nhân thân.
Bị cáo phạm tội nhằm thu lợi bất chính, nên căn cứ Khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 cần phạt bị cáo số tiền theo quy định.
Trong thời gian bán ma túy, bị cáo L thu lợi bất chính số tiền 90.000 đồng, nên căn cứ Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, buộc bị cáo nộp lại số tiền 90.000 đồng để tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước.
Đối với người đàn ông tên K bán ma túy cho bị cáo và người phụ nữ mua ma túy của bị cáo, do không xác định được lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận 8 không có cơ sở để xử lý.
Đối với Trần Thị Ngọc Q và Nguyễn Thị N là người mua ma túy nhưng chưa đưa tiền, chưa nhận ma túy của L; qua kiểm tra ma túy thì Q và N có kết quả âm tính nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 8 không đủ cơ sở để xử lý.
Xử lý vật chứng:
- 01 gói niêm phong bên ngoài ghi ký hiệu 1051/23 chứa ma túy tạm giữ của bị cáo Dương Cảnh L, xét là vật cấm lưu hành theo quy định, nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone gắn sim 0905787868 tạm giữ của bị cáo L, xét bị cáo dùng làm phương tiện liên lạc mua bán trái phép chất ma túy, nên tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước.
- 01 xe mô tô biển số 59L3-399.63; nhãn hiệu Yamaha; số loại Exiter, màu: Xanh Bạc Đen; dung tích xilanh: 149; loại xe: 02 bánh từ 50-170cm3; số máy: G3D4E477853; số khung: RLCUG0610HY456737; số chỗ ngồi: 2; sản xuất năm 2017; đăng ký lần đầu ngày 15/5/2017, đăng ký mới ngày 10/10/2022, bị cáo L sử dụng làm phương tiện mua bán ma túy. Dương Cảnh L khai vào khoảng tháng 7/2022, L nhận cầm cố xe mô tô trên của một người nam thanh niên tên T với giá 10.000.000 đồng nhưng T không chuộc lại. Qua xác minh, xe này do anh Phạm Thanh T đứng tên đăng ký. Hiện nay, cả gia đình anh T đã bán nhà rời khỏi địa phương đi đâu không rõ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 8 không ghi được lời khai anh T, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Quận 8 đã đăng thông báo tìm chủ sở hữu xe mô tô trên nhưng cho đến nay chưa có kết quả, do vậy cần tiếp tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng thời hạn 01 năm để tìm chủ sở hữu xe hợp pháp, hết thời hạn mà không xác định được chủ sở hữu thì tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào Điểm b Khoản 2 Điều 251; Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo: Dương Cảnh L 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Thời hạn tù tính từ ngày 06/5/2023.
2. Áp dụng Khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
Phạt bị cáo Dương Cảnh L số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng.
3. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
3.1. Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong bên ngoài ghi ký hiệu 1051/23 chữ ký ghi tên Dương Cảnh L, hình dấu Công an Phường 5, Quận 8 và chữ ký giám định viên Trần Đình Hải.
3.2. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone gắn sim 0905787868.
3.3. Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 01 (một) năm, để tìm chủ sở hữu đối với xe gắn máy biển số 59L3-399.63; nhãn hiệu Yamaha; số loại Exiter, màu: Xanh Bạc Đen; dung tích xilanh: 149; loại xe: 02 bánh từ 50-170cm3; số máy: G3D4E477853; số khung: RLCUG0610HY456737; số chỗ ngồi: 2; sản xuất năm 2017; đăng ký lần đầu ngày 15/5/2017, đăng ký mới ngày 10/10/2022. Hết thời hạn thông báo mà không xác định được chủ sở hữu thì tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
3.4. Buộc bị cáo Dương Cảnh L nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 90.000 (chín mươi ngàn) đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.
(Biên bản giao, nhận tang tài vật ngày 24/9/2023)
4. Về án phí: Căn cứ vào các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.
5. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án: Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành cho đến khi thi hành án xong, bị cáo có nghĩa vụ thi hành còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
6. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, bị cáo, các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND Quận 8; - VKSND TP.HCM; - CQ ĐT CA Quận 8; - CQ THA HS CA Quận 8; - Trại tạm giam Chí Hòa (T30); - Chi cục THA DS Quận 8; - Người tham gia tố tụng khác; - TA ND TP.HCM; - Sở Tư pháp TP.HCM; - PC53. - Lưu: HS, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Như Hoa |