vanban.org

Bản án 155/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Mộng T. Bà Nguyễn Thị Mộng T được ly hôn với ông Nguyễn Hồng H. Về con chung: giao cháu Nguyễn Hồng Bảo D, sinh ngày 16/8/2007 cho bà T nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Tạm thời, ông H không phải cấp dưỡng cho con. Riêng Nguyễn Hồng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
  • Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ B
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 155/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 26/05/2023
V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHAÂN DANH

NÖÔÙC COÄNG HOØA XAÕ HOÄI CHUÛ NGHÓA VIEÄT NAM

TOØA AÙN NHAÂN DAÂN THAØNH PHOÁ B- TÆNH ÑOÀNG NAI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Nhàn

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Đậu Thị Mỹ Long

Ông Trần Chính

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung – Thư ký Tòa án

nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai

tham gia phiên tòa: Ông Mai Văn Thông – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 05 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 127/2023/TLST – HNGĐ ngày 16 tháng 01 năm 2023, về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 150/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 08/05/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 198/2023/QĐST-HNGĐ ngày 08/5/2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Mộng T, sinh năm 1982

Hộ khẩu thường trú: A4/367B, khu phố 4, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai

- Bị đơn: Ông Nguyễn Hồng H, sinh năm 1981

Hộ khẩu thường trú: A4/367B, khu phố 4, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai

(Bà T có đơn xin vắng mặt; ông H vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mộng T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Hồng H nguyện tìm hiểu và đi đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai vào năm 2002 có tổ chức đám cưới, hôn nhân tự nguyện. Trong quá trình chung sống hai vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm. Cả hai đã không còn tôn trọng lẫn nhau, nhiều lần cả hai cùng ngồi lại vì không muốn hạnh phúc gia đình tan vỡ, cố gắng giải quyết mâu thuẫn nhưng vẫn không có kết quả. Xét thấy, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, tình cảm của bà với ông H cũng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà xin được ly hôn với ông H để trả tự do cho nhau.

Về con chung: Trong quá trình chung sống bà và ông H có 02 con chung là cháu Nguyễn Hồng B, sinh ngày 14/08/2003; Nguyễn Hồng Bảo D, sinh ngày 16/8/2007. Ly hôn, bà xin được nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu D. Tạm thời, bà không yêu cầu cấp dưỡng cho con. Riêng Nguyễn Hồng B đã trưởng thành, có khả năng lao động nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Bà T trình bày tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà T trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình thụ lý và giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng và giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho ông Nguyễn Hồng H đến Tòa làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông H vắng mặt không có lý do nên không có lời khai.

Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện đúng quy định. Bị đơn thực hiện không đúng.

- Về việc giải quyết vụ án: Trong quá trình chung sống bà và ông H có 02 con chung là cháu Nguyễn Hồng B, sinh ngày 14/08/2003; Nguyễn Hồng Bảo D, sinh ngày 16/8/2007. Ly hôn, giao cháu D cho bà T nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Tạm thời, ông H không yêu cầu cấp dưỡng cho con. Riêng Nguyễn Hồng B đã trưởng thành, có khả năng lao động nên không đặt ra xem xét giải quyết.Về tài sản chung, nợ chung không đặt ra giải quyết. Bà T phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật, tư cách đương sự: Bà Nguyễn Thị Mộng T yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Hồng H. Căn cứ vào Điều 28, Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp ly hôn”; Bà Nguyễn Thị Mộng T là nguyên đơn, ông Nguyễn Hồng H là bị đơn.

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị Mộng T nộp đơn yêu cầu giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Hồng H; hiện đang cư trú khu phố 4, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Về thủ tục tố tụng: Bà Nguyễn Thị Mộng T có đơn xin vắng mặt. Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa theo quy định của pháp luật cho ông Nguyễn Hồng H, nhưng ông H vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Mộng T và ông Nguyễn Hồng H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và đã được Uỷ ban nhân dân phường T, thành phố B cấp giấy chứng nhận kết hôn năm 2002 nên áp dụng Điều 9, Điều 11, Điều 12 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 xác định là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn: Theo bà Nguyễn Thị Mộng T trình bày sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian rồi bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp; hai bên đã nhiều lần tạo cơ hội hàn gắn nhưng không có kết quả, cuộc sống hôn nhân giữa bà và ông H ngày càng mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên bà xin ly hôn với ông H.

Qua xác minh tại địa phương, địa phương cung cấp: “Trong quá trình chung sống vợ chồng bà T, ông H có phát sinh mâu thuẫn cụ thể như thế nào dẫn đến việc bà T khởi kiện xin ly hôn với ông H thì địa phương không rõ”. Tòa án cũng đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và giấy triệu tập, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho ông H đến Tòa làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông H vẫn vắng mặt, cho thấy ông H không muốn níu kéo cuộc hôn nhân này. Xét thấy mâu thuẫn giữa bà T và ông H đã thật sự trầm trọng, không có khả năng hàn gắn đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc bà T xin ly hôn với ông H là có cơ sở. Do đó, Căn cứ khoản 1, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Mộng T.

Về con chung: Trong quá trình chung sống bà T và ông H có 02 con chung là cháu Nguyễn Hồng B, sinh ngày 14/08/2003; Nguyễn Hồng Bảo D, sinh ngày 16/8/2007. Do cháu D còn nhỏ cần sự chăm sóc của mẹ (bà T); hơn nữa cháu D xin ở với bà T nên giao cháu D cho bà T nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục là phù hợp. Tạm thời, ông H không yêu cầu cấp dưỡng cho con. Riêng Nguyễn Hồng B đã trưởng thành, có khả năng lao động nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Bà T trình bày tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do chưa lấy được lời khai của ông H về vấn đề tài sản chung, nên không đặt ra xem xét giải quyết. Trường hợp phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết bằng vụ án khi các đương sự có yêu cầu.

. Về nợ chung: Bà T trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do chưa lấy được lời khai của ông H về vấn đề nợ chung, nên không đặt ra xem xét giải quyết. Trường hợp phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết bằng vụ án khi các đương sự có yêu cầu.

Về án phí: Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bà Nguyễn Thị Mộng T phải nộp 300.000đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì caùc leõ treân,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 203, Điều 220, Điều 238, Điều 266, Điều 273 Bộ Luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 9, Điều 11, Điều 12 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000

Áp dụng Điều 9, Điều 19; Điều 53, Điều 56; Điều 71; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; khoản 1 Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Mộng T. Bà Nguyễn Thị Mộng T được ly hôn với ông Nguyễn Hồng H.

- Về con chung: giao cháu Nguyễn Hồng Bảo D, sinh ngày 16/8/2007 cho bà T nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Tạm thời, ông H không phải cấp dưỡng cho con. Riêng Nguyễn Hồng B, sinh ngày 14/08/2003 đã trưởng thành, có khả năng lao động nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Vì không trực tiếp nuôi con, nên ông H được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì quyền lợi của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Bà T trình bày tự thỏa thuận. Do đó, không đặt ra xem xét, giải quyết.

- Về nợ chung: Bà T trình bày không có. Do đó, không đặt ra xem xét, giải quyết.

- Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Mộng T phải nộp 300.000đ án phí, được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0005913 ngày 09/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B. Bà T đã nộp đủ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm

- Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Mộng T, ông Nguyễn Hồng H có quyeàn khaùng caùo trong thời haïn 15 ngaøy keå töø ngaøy nhaän ñöôïc baûn aùn hoaëc được tống đạt hợp lệ bản án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ