vanban.org

Bản án 155/2023/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND tỉnh Bình Dương Tuyên án 05/05/2023 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 05/05/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Võ Đức H.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 95/2022/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Võ Đức H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, được trừ hết vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên l… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "TRẦN KIM N - VÕ ĐỨC H"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Võ Đức H.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 155/2023/DS-PT
Ngày 05-5-2023
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Trúc

Các Thẩm phán:

Bà Nguyễn Ngọc Mai

Bà Đinh Thị Mộng Tuyết

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Hoài Thu – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Lê Ngọc Ấn – Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 73/2023/TLPT-DS về việc “tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 95/2022/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 162/2023/QĐPT-DS ngày 14 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Kim N, sinh năm 1961; địa chỉ: số E, khu phố C, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có mặt.

- Bị đơn: Ông Võ Đức H, sinh năm 1964; địa chỉ: số A, tổ D, khu phố F, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có mặt.

- Người kháng cáo: Bị đơn ông Võ Đức H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nội dung bản án sơ thẩm thể hiện:

Nguyên đơn bà Trần Kim N trình bày:

Ông Võ Đức H vay tiền của bà Trần Kim N (tên gọi khác: Mười N1) nhiều lần. Đến ngày 01/9/2021, hai bên tổng hợp số nợ và ông H đã viết giấy mượn tiền thể hiện ông H vay của bà N1 số tiền 320.000.000 đồng, thời hạn vay 01 tháng, lãi suất thỏa thuận là 5%/tháng, ông H có để lại 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông Võ Đức H để làm tin.

Tuy nhiên, hết thời gian thỏa thuận 01 tháng nhưng ông H không thanh toán tiền cho bà N1. Vì vậy, bà N1 khởi kiện yêu cầu ông H phải thanh toán tổng số tiền gốc là 320.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh tính từ ngày vay 01/9/2021 đến ngày 06/9/2022 (làm tròn là 12 tháng), với mức lãi suất là 20%/năm tương đương số tiền lãi làm tròn số là 60.000.000 đồng. Tổng số tiền bà N1 yêu cầu ông H phải thanh toán là 380.000.000 đồng (ba trăm tám mươi triệu đồng).

Bị đơn ông Võ Đức H tr nh bày:

Vào tháng 9 năm 2019, ông H có vay của bà Trần Kim N số tiền 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) và sau đó có vay của bà N nhiều lần. Tổng cộng số tiền đã vay là 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng). Lãi suất 5%/tháng; có thế chấp 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Võ Đức H để làm tin. Do dịch bệnh và không đi làm được, không có tiền trả lãi và gốc nên ông H đã viết giấy nợ, cộng cả gốc và lãi nhiều lần cho bà Trần Kim N tính đến ngày 01/9/2021 là 320.000.000 đồng (ba trăm hai mươi triệu đồng). Ông H không có khả năng trả nợ nên xin xem xét cho ông H trả 320.000.000 đồng cho bà N trong thời hạn 12 tháng kể từ tháng 9/2022 đến tháng 9/2023, ông H xin không thanh toán lãi suất như yêu cầu của bà N.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 95/2022/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh B nh Dương đã quyết định:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Kim N đối với ông Võ Đức H về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

Buộc ông Võ Đức H có trách nhiệm thanh toán cho bà Trần Kim N số tiền số tiền 380.000.000 đồng (ba trăm tám mươi triệu đồng).

Kể từ ngày 07/9/2022, ông Võ Đức H còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

Bà Trần Kim N có trách nhiệm hoàn trả cho ông Võ Đức H 01 bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Y542012, số vào sổ cấp GCN 01537.QSDĐ/H, do Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) T cấp ngày 15/11/2004 cho hộ ông Võ Đức H.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Võ Đức H phải chịu số tiền 19.000.000 đồng (mười chín triệu đồng).

Ngoài ra, bản án còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án, quyền kháng cáo.

Sau khi có bản án sơ thẩm, ngày 19/9/2022 bị đơn ông Võ Đức H có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, bị đơn đồng ý trả số tiền vay gốc 100.000.000 đồng và lãi suất theo quy định của Nhà nước. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Đại di n Vi n Ki m sát nhân dân tỉnh B nh Dương phát bi u quan đi m:

Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận ký Giấy mượn tiền ngày 01/9/2021. Đây là tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn cho rằng chỉ vay số tiền 100.000.000 đồng nhưng không có chứng cứ chứng minh. Việc bị đơn vay tiền của nguyên đơn đến hạn trả nợ không trả là vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày của đương sự, Kiểm sát viên,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Nguyên đơn bà Trần Kim N khởi kiện ông Võ Đức H yêu cầu ông H phải trả cho bà N số tiền nợ gốc là 320.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh với mức lãi suất là 20%/năm theo Giấy mượn tiền ngày 01/9/2021 (bút lục 06). Quá trình giải quyết vụ án, ông Võ Đức H thừa nhận có ký Giấy mượn tiền ngày 01/9/2021 (bút lục 06) với số tiền vay 320.000.000 đồng, tuy nhiên ông H cho rằng đây là số tiền cộng dồn tiền vay gốc và tiền lãi mà ông H đã vay của bà N nhiều lần vào năm 2019 với tổng số tiền vay là 100.000.000 đồng, lãi suất 5%/tháng. Bà N và ông H thừa nhận việc ông H có đưa cho bà N giữ 01 bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Y542012, số vào sổ cấp GCN 01537.QSDĐ/H, do Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) T cấp ngày 15/11/2004 cho hộ ông Võ Đức H để làm tin. [2] Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình, bà N cung cấp Giấy mượn tiền ngày 01/9/2021 (bút lục 06). Bị đơn ông Võ Đức H thừa nhận chứng cứ do bà N cung cấp.

Tại Biên bản đối chất ngày 30/3/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương và tại phiên tòa, ông H không xác định được cụ thể ngày vay, số tiền vay mỗi lần là bao nhiêu, không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho lời khai của ông H. Đồng thời, ông H và bà N đều xác định cá nhân ông H vay, không liên quan đến vợ ông H. Do đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định giữa ông H và bà N có việc vay tiền theo Giấy mượn tiền ngày 01/9/2021, ông H không thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo thời gian thỏa thuận là vi phạm khoản 1, khoản 4 Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015, từ đó quyết định chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông H trả lãi sau ngày xét xử sơ thẩm là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Bộ luật Dân sự và Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

Bị đơn ông Võ Đức H kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho kháng cáo của mình nên Hội đồng xét xử không có căn cứ chấp nhận. Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tại phiên tòa là phù hợp.

Án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo phải chịu theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

V các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308, Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Võ Đức H.

2. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 95/2022/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Võ Đức H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, được trừ hết vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002444 ngày 20/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ