- Tranh chấp gì? án hình sự — "cướp tài sản - Bị truy tố tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 53 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 155/2022/HS-ST Ngày 27-5-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Túy Phƣợng.
2. Bà Phạm Nguyễn Phƣơng Thà.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nghĩa – Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Nga - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 5 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 146/2022/TLST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2022 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 153/2022/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2022, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn L, sinh năm 1990 tại tỉnh L An; nơi cƣ trú: Ấp B, xã T, huyện V, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trƣơng Minh Hùng và bà Nguyễn Thị B; bị cáo có vợ bà Lê Thị Mỹ H, sinh năm 1989 và 02 ngƣời con; tiền án: Ngày 11/5/2010 bị Tòa án nhân dân huyện Mộc H, tỉnh Long An xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản tại Bản án số 12/2010/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/3/2011, ngày 20/9/2012 đóng án phí Hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm; tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 28/10/2021. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại:
1. Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1961; nơi cƣ trú: Ấp Bàu N, xã T, huyện V, tỉnh Long An. Có mặt.
2. Ông Phan Hữu T, sinh năm 1997; nơi cƣ trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang. Vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Vũ Thị Ngọc O, sinh năm 1978; nơi cƣ trú: 386/58 Lê Văn S, Phƣờng 14, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
2. Ông Huỳnh Văn C, sinh năm 1969; nơi cƣ trú: 2 Chu Văn A, phƣờng T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.
3. Ông Trần Đức T, sinh năm 1988; nơi cƣ trú: Xóm 23, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; tạm trú: Cầm đồ Hoàng P, ấp Lồ Ô, xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt.
4. Bà Lê Thị Mỹ H, sinh năm 1989; trú tại: Ấp Bàu N, xã Thái T, huyện V, tỉnh Long An; tạm trú: Ấp B, xã T, huyện D, tỉnh Bình Dƣơng. Có mặt.
Người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng: Ông Trần Chí H. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn Bến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Bà Nguyễn Thị B, Nguyễn Văn L và Nguyễn Văn H có quan hệ là mẹ con ruột với nhau. Khoảng 16 giờ ngày 09/6/2017, ông Phan Hữu T điều khiển xe mô tô Bển số 59X1-204.76 chở bà B đi công việc. Khi đi đến đoạn đƣờng 22/12 (trƣớc cửa hàng xăng dầu Lai Uyên) thuộc khu phố Hòa Lân 2, phƣờng Thuận Giao, thị xã (nay là thành phố) Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng thì gặp Nguyễn Văn L điều khiển xe mô tô kiểu dáng Wave, màu sơn đỏ (không rõ Bển số) chở theo Nguyễn Văn H. Thấy ông T điều khiển xe mô tô Bển số 59X1-204.76 (xe của bà Nguyễn Thị B) chở bà B nên cả hai nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe này. Thực hiện ý định trên, L điều khiển xe mô tô đuổi theo xe ông T và bà B từ phía sau lên, đồng thời H ngồi sau dùng tay giật quai mũ bảo hiểm của ông T đang đội làm ông T và bà B té ngã xuống đƣờng. Tiếp đó, L và H dừng xe bƣớc xuống dùng tay, chân, nón bảo hiểm đánh và H dùng 01 cây tua vít bằng kim loại đâm vào vùng lƣng vai bên pH ông T gây thƣơng tích, làm ông T pH bỏ chạy. Tiếp đó, H đe dọa và kêu bà B pH đƣa chìa khóa xe mô tô Bển số 59X1-204.76 cho H và L nhƣng bà B không đồng ý, H liền kêu L dắt xe mô tô Bển số 59X1-204.76 đi, thấy vậy bà B lao ra giữ xe lại thì bị H dùng cây tua vít đâm vào lƣng và mông gây thƣơng tích rồi chiếm đoạt xe mô tô Bển số 59X1-204.76 nêu trên. Sau khi chiếm đoạt đƣợc xe mô tô Bển số 59X1-204.76 thì H và L đem xe đến Cửa hàng cầm đồ Hoàng P, địa chỉ: Ấp Lồ Ô, xã An Tây, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dƣơng do ông Trần Đức Tiến làm chủ và cầm cố lấy số tiền 8.000.000đồng để tiêu xài.
Sau khi nhận đƣợc tin báo, Công an phƣờng Thuận Giao xuống hiện trƣờng, lập hồ sơ vụ việc, sau đó chuyển đến Cơ quan CSĐT Công an thị xã (nay là thành phố) Thuận An thụ lý giải quyết.
Ngày 12/6/2017 bà Nguyễn Thị B và ông Phan Hữu T có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với Nguyễn Văn L, Nguyễn Văn H.
Tại Bên bản và Kết luận định giá tài sản trong Tố tụng hình sự ngày 20/8/2017 của Hội đồng định giá thị xã (nay là thành phố) Thuận An kết luận: 01 xe mô tô Bển số 59X1-204.76 có giá trị là 28.000.000 đồng.
Ngày 22/8/2017 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã (nay là thành phố) Thuận An đã ra Quyết định khởi tố vụ án, đến ngày 02/4/2018 ra Quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn L, Nguyễn Văn H về tội Cƣớp tài sản và ra Lệnh bắt bị can để tạm giam nhƣng chƣa bắt đƣợc L và H. Do đã hết thời hạn điều tra nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án, tạm đình chỉ điều tra bị can L và H.
Ngày 11/02/2020 bắt đƣợc Nguyễn Văn H theo Quyết định truy nã số 06 ngày 18/4/2018 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã (nay là thành phố) Thuận An, nên cơ quan điều tra đã ra Quyết định đình nã và phục hồi điều tra đối với bị can Nguyễn Văn H. Ngày 18/5/2021 Tòa án nhân dân thành phố Thuận An xét xử đối với Nguyễn Văn H về tội Cƣớp tài sản đƣợc quy định tại khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tại Bản án số 137/2021/HS-ST ngày 18/5/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An.
Ngày 28/10/2021, Nguyễn Văn L bị bắt theo Quyết định truy nã tại xã Thanh Tuyền, huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dƣơng; Ngày 31/10/2021, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thuận An ra Quyết định phục hồi điều tra vụ án hình sự; Quyết định phục hồi điều tra đối với bị can và Lệnh tạm giam đối với Nguyễn Văn L để tiếp tục điều tra về tội Cƣớp tài sản đƣợc quy định tại khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Cáo trạng số 143/CT-VKS-TA ngày 05/5/2022 của Viện trƣởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội Cƣớp tài sản theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 133 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) nay là điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định nhƣ bản cáo trạng đã truy tố và xác định: Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị kết án nên đề nghị áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc; về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tài sản đã thu hồi giao trả cho chủ sỡ hữu; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Kiểm sát viên đề nghị:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L mức án từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Đã đƣợc xử lý tại Bản án số 137/2021/HS-ST ngày 18/5/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An nên đề nghị Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Quá trình tố tụng và tại phiên tòa bà Nguyễn Thị B trình bày: Bà B thống nhất toàn bộ nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố chỉ mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội làm lại cuộc đời. Về trách nhiệm dân sự bà B không có bất kỳ yêu cầu gì trong vụ án.
Quá trình tố tụng và tại phiên tòa ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Mỹ Hằng trình bày: Bà Hằng là vợ của bị cáo L, bà Hằng chỉ mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội giống nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố, lời nói sau cùng bị cáo thể hiện rất ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên mong Hội đồng xét xử cho bị cáo đƣợc hƣởng mức hình phạt thấp nhất để có điều kiện làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những ngƣời tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn L đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với các tình tiết nhƣ bản cáo trạng đã truy tố, phù hợp với lời khai của bị hại; ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; ngƣời làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định. Khoảng 16 giờ ngày 09/6/2017, tại đoạn đƣờng 22/12 (trƣớc cửa hàng xăng dầu Lai Uyên) thuộc khu phố Hòa Lân 2, phƣờng Thuận Giao, thị xã (nay là thành phố) Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, khi thấy ông Phan Hữu T, điều khiển xe mô tô Bển số 59X1-204.76 chở bà Nguyễn Thị B thì Nguyễn Văn L và Nguyễn Văn H điều khiển xe đuổi theo rồi dùng tay giật quai mũ bảo hiểm của ông T đang đội làm ông T và bà B té ngã xuống đƣờng, rồi dùng tay, chân, nón bảo hiểm đánh, cây tua vít bằng kim loại đâm vào vùng lƣng vai bên pH ông T; sau đó tiếp tục đâm vào lƣng và mông của bà B nhằm chiếm đoạt xe mô tô Bển số 59X1-204.76 trị giá 28.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo L dùng tay, chân, cây tua vít bằng kim loại, nón bảo hiểm đánh bị hại làm cho bị hại lâm vào tình trạng không thể chống cự nhằm chiếm đoạt tài sản, đã đủ yếu tố cấu thành tội Cƣớp tài sản, tội phạm và hình phạt đƣợc quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Do đó, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố bị cáo về tội Cƣớp tài sản là có căn cứ và đúng pháp luật, mức đề nghị áp dụng hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với hành vi bị cáo đã thực hiện.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đe dọa xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, xâm phạm đến tài sản của ngƣời khác một cách trái pháp luật, gây mất an ninh trật tự xã hội tại địa phƣơng. Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị Tòa án có thẩm quyền xét xử về tội Trộm cắp tài sản. Quá trình điều tra bị cáo đã bỏ trốn gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố nên cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc tƣơng xứng với tính chất, mức độ tội phạm đã thực hiện, có xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo nhằm răn đe, giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Đối với ông Trần Đức Tiến là chủ Cửa hàng cầm đồ Hoàng Phƣơng, khi nhận cầm xe mô tô Bển số 59X1-204.76 của L và H đem đến đã đƣợc xử lý tại tại Bản án số 137/2021/HS-ST ngày 18/5/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Đối với phần thƣơng tích của bà Nguyễn Thị B và ông Phan Hữu T do bị cáo gây ra, Cơ quan điều tra ra quyết định trƣng cầu giám định thƣơng tích, nhƣng ông T và bà B xác định vết thƣơng đã lành, không ảnh hƣởng đến sức khỏe, có đơn từ chối giám định thƣơng tích nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 11/5/2010 bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Mộc Hóa, tỉnh L An xử phạt 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản tại Bản án số 12/2010/HSST, chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/3/2011, ngày 20/9/2012 đóng 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm và 430.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Tuy nhiên, về trách nhiệm dân sự bị cáo pH bồi thƣờng cho bị hại Nguyễn Thị Phiêm số tiền 5.200.000 đồng, bị cáo chƣa thực hiện nên hành vi của bị cáo thực hiện thuộc trƣờng hợp tái phạm theo quy định tại khoản 1 Điều 53 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Đã đƣợc xử lý tại Bản án số 137/2021/HS-ST ngày 18/5/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí: Bị cáo pH chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vụ án xảy ra năm 2017 nay mới đƣợc đƣa ra xét xử, nên áp dụng Nghị quyết số 41/2017/QH14 của Quốc hội về thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 53 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
- Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Nghị quyết số 41/2017/QH14 của Quốc hội về thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015.
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội Cƣớp tài sản.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/10/2021.
2. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn L pH chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo; bị hại; ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại; ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án đƣợc giao hoặc đƣợc niêm yết./.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND thành phố Thuận An; - VKSND tỉnh Bình Dƣơng; - Chi cục THA thành phố Thuận An; - CQCSĐT Công an thành phố Thuận An; - Cơ quan THAHS Công an thành phố Thuận An; - Bị cáo; - Bị hại; - Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lƣu: HS, THAHS, AV. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thu |