- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "anh Trần Văn M khởi kiện yêu cầu ly hôn với chị Nguyễn Thị L"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho anh Trần Văn M ly hôn với chị Nguyễn Thị L.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH CÀ MAU ————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 155/2022/HNGĐ-ST Ngày 19-9-2022. V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Hồng Huệ.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trịnh Chí Công.
Bà Phạm Hồng Ân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Tú là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Kil - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 212/2022/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2022 về ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 375/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 8 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Trần Văn M, sinh năm 1974 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp C, xã N, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1982 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp T, xã R, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 20 tháng 6 năm 2022 cùng các văn bản khác kèm theo, anh Trần Văn M trình bày: Vào tháng 02 năm 2001 anh và chị Nguyễn Thị L kết hôn nhưng đến nay không đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống giữa anh và chị L xảy ra nhiều mâu thuẫn do không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, từ đó giữa vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2011 cho đến nay. Do cuộc sống hôn nhân giữa anh với chị L không còn hạnh phúc, mâu thuẫn giữa vợ chồng đã trầm trọng, không thể hàn gắn nên anh yêu cầu được ly hôn với chị L. Về con chung, có ba người tên là Trần Văn T (giới tính nam), sinh năm 2002, Trần Văn T (giới tính nam), sinh năm 2003 và Trần Văn K (giới tính nam), sinh ngày 13 tháng 10 năm 2007. Đối với Trần Văn T và Trần Văn T hiện đã thành niên và có khả năng tự lao động nên anh không yêu cầu giải quyết. Riêng Trần Văn K hiện do anh trực tiếp nuôi dưỡng nên khi ly hôn anh yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, anh không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung tự thỏa thuận và nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn chị Nguyễn Thị L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng nhiều lần nhưng đều vắng mặt không có lý do. Đồng thời, cũng không cung cấp lời khai, tài liệu, chứng cứ liên quan đến yêu cầu khởi kiện của anh Trần Văn M.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát: Về tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự được thực hiện đúng quy định của pháp luật. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 56, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận cho anh M ly hôn với chị L. Giao một người con chung tên là Trần Văn K (giới tính nam), sinh ngày 13 tháng 10 năm 2007 cho anh M tiếp tục nuôi dưỡng, chị L không cấp dưỡng nuôi con. Đồng thời, buộc anh M phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Việc anh Trần Văn M khởi kiện yêu cầu ly hôn với chị Nguyễn Thị L là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn chị Nguyễn Thị L cư trú tại ấp T, xã R, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn anh Trần Văn M vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn chị Nguyễn Thị L đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do đó, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh Trần Văn M và chị Nguyễn Thị L đúng theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về hôn nhân, anh Trần Văn M cho rằng vào tháng 02 năm 2001 anh M và chị L kết hôn nhưng đến nay không đăng ký kết hôn. Tuy nhiên, tại trích lục kết hôn ngày 19 tháng 9 năm 2022 của Ủy ban nhân dân xã Tân Hưng Tây, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau thể hiện anh M và chị L có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau tại số 55 vào ngày 15 tháng 5 năm 2002. Do đó, anh M và chị L kết hôn và có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nên hôn nhân giữa anh Trần Văn M và chị Nguyễn Thị L là hôn nhân hợp pháp. Anh M yêu cầu ly hôn với chị L vì anh M cho rằng quá trình giữa anh M và chị L đã xảy ra nhiều mâu thuẫn do không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, từ đó cuộc sống hôn nhân giữa anh M với chị L không còn hạnh phúc, mâu thuẫn giữa vợ chồng đã trầm trọng, không thể hàn gắn nên anh M và chị L đã sống ly thân từ năm 2011 cho đến nay, quá trình giải quyết vụ án chị L không có ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của anh M, cũng như không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Điều đó cho thấy tình trạng hôn nhân giữa anh M và chị L đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chấp nhận cho anh Trần Văn M ly hôn với chị Nguyễn Thị L là có căn cứ đúng theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung, đối với hai người con chung tên là Trần Văn T (giới tính nam), sinh năm 2002, Trần Văn T (giới tính nam), sinh năm 2003, hiện đã thành niên và có khả năng tự lao động nên không đặt ra xem xét. Riêng Trần Văn K (giới tính nam), sinh ngày 13 tháng 10 năm 2007 anh M yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng. Chị L không có ý kiến phản đối về yêu cầu được nuôi con của anh M. Xét thấy, con chung hiện do anh M là người đang trực tiếp nuôi dưỡng, do đó nhằm để ổn định về điều kiện môi trường sống và đảm bảo sự phát triển bình thường của con chưa thành niên. Từ đó, giao con chung cho anh M tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp. Anh M không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét.
Anh Trần Văn M xác định tài sản chung tự thỏa thuận và nợ chung không có. Chị Nguyễn Thị L không có ý kiến về những vấn đề trên nên không đặt ra xem xét.
Do đó, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ để chấp nhận.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, anh Trần Văn M phải chịu theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
Áp dụng các Điều 56, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho anh Trần Văn M ly hôn với chị Nguyễn Thị L.
2. Về con chung, giao anh Trần Văn M trực tiếp nuôi dưỡng một người con chung tên là Trần Văn K (giới tính nam), sinh ngày 13 tháng 10 năm 2007. Chị Nguyễn Thị L không cấp dưỡng nuôi con.
Chị Nguyễn Thị L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
3. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, anh Trần Văn M phải chịu 300.000 đồng nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0018016, ngày 20 tháng 6 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau nên anh Trần Văn M đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau; - Ủy ban nhân dân xã T, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Hồng Huệ |