- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Phú Q phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 155/2021/HS-ST Ngày: 13-12-2021. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN LỘC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Anh Dũng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lữ Quốc Toàn.
2. Ông Phạm Đức Anh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Hạ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Xuân Lộc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc tham gia phiên tòa:
Ông Võ Công Văn – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 153/2021/HSST ngày 16 tháng 11 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 163/2021/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2021 và Thông báo về việc dời lịch xét xử số 376/2021/TB-TA ngày 22-11-2021 đối với bị cáo:
PHẠM PHÚ Q, sinh năm: 1995, tại Đồng Nai; Nơi đăng ký thường trú: Ấp NH, xã XB, huyện CM, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn V, sinh năm: 1960 và bà Văn Thị T, sinh năm: 1960; Vợ: Phạm Minh C (đã ly hôn), có 01 người con, sinh năm: 2015; Tiền án: Không;
Tiền sự: Có 01 tiền sự (Tại Quyết định số 84/QĐ-TA ngày 24-12-2019, Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai, quyết định đưa Phạm Phú Q vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tỉnh Đồng Nai, thời gian 14 tháng, chấp hành xong ngày 09-11-2020).
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 09-8-2021 đến nay.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Võ Hải H, sinh năm: 2001. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp NH, xã XB, huyện CM, tỉnh Đồng Nai.
2. Anh Phạm Ngọc T, sinh năm: 1993.(Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp NH, xã XB, huyện CM, tỉnh Đồng Nai.
- Người làm chứng:
Anh Phạm Thanh S, sinh năm: 1981.(Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp BĐ, xã XĐ, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
- Người chứng kiến:
Anh Nguyễn Chí D, sinh năm: 1976.(Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp BĐ, xã XĐ, huyện X, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 15 giờ 45 phút ngày 09-8-2021, lực lượng Công an xã XĐ tuần tra tại khu vực chợ XĐ thuộc ấp ND, xã XĐ, huyện X, tỉnh Đồng Nai, kiểm tra phát hiện trong túi áo khoác bên phải của bị cáo Phạm Phú Q đang mặc có 01 (Một) gói nylon hàn kín hai đầu, kích thước 3cm x 6cm, bên ngoài dán băng keo màu xanh, bên trong có 02 (Hai) gói nylon kích thước 2,5cm x 5,5cm, được hàn kín hai đầu, chứa tinh thể màu trắng. Bị cáo khai là ma túy tổng hợp. Công an xã XĐ tiến hành lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Phạm Phú Q và niêm phong tang vật theo quy định.
Quá trình điều tra, bị cáo Phạm Phú Q khai nhận: Vào khoảng 14 giờ 00 phút ngày 09-8-2021, bị cáo nhờ một thanh niên tên “Tèo” (không rõ nhân thân lai lịch) tìm người để mua ma túy đá, với số tiền 2.000.000 đồng, đem về sử dụng. Sau khi liên hệ được với người bán ma túy, Tèo nói với bị cáo đi tới lô cao su thuộc ấp BT, xã XĐ, huyện X, tỉnh Đồng Nai sẽ có người đến bán ma túy. Bị cáo rủ Phạm Ngọc T cùng đi nhưng không nói cho Phạm Ngọc T là đi mua ma túy. Sau đó, bị cáo điều khiển xe mô tô màu xanh - đen - bạc, mang biển số 60F3-374.66 đến nhà chở Phạm Ngọc T. Khi đến lô cao su, bị cáo gặp một người thanh niên (không rõ nhân thân lai lịch) bịt khẩu trang điều khiển xe mô tô không rõ biển số đi đến. Bị cáo đưa cho người thanh niên này 2.000.000 đồng và người thanh niên đưa cho bị cáo 01 (Một) gói nilon, có quấn băng keo màu xanh, kích thước 03cm x 06 cm, bên trong có chứa ma túy. Sau khi mua được ma túy, bị cáo cất vào túi áo khoác, bên phải rồi lên xe chở Phạm Ngọc T đi về hướng XĐ. Khi cả hai đến chợ XĐ, gặp trời mưa nên bị cáo và Phạm Ngọc T vào chợ XĐ để trú mưa thì bị lực lượng Công an xã XĐ kiểm tra, phát hiện ma túy cất dấu trong túi áo khoác nên lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong tang vật theo quy định.
* Vật chứng vụ án thu giữ:
- 02 (Hai) gói nylon hàn kín, kích thước 2,5cm x 5,5cm, có chứa tinh thể màu trắng, thu giữ trong túi áo khoác bên phải của Phạm Phú Q (niêm phong ký hiệu M);
- 01 (Một) vỏ gói nylon, kích thước 03cm x 06cm, bị cháy xém;
- 01 (Một) đoạn băng keo, màu xanh;
- 01 (Một) xe mô tô, hiệu Wave, mang biển số 60F3-374.66, đã trả lại cho anh Võ Hải H.
* Tại Bản giám định số 1665/KLGĐ-PC09 ngày 15-8-2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong (kí hiệu M), gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 4,9434 gam, loại: Methamphetamine.
Bản cáo trạng số 160/CT-VKSXL ngày 12-11-2021, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai truy tố Phạm Phú Q về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Phạm Phú Q khai nhận đã thực hiện hành vi như nội dung Bản cáo trạng mô tả. Hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với Phạm Phú Q về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điểm c, khoản 1, Điều 249; Điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, tuyên bố bị cáo Phạm Phú Q phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo từ 4 năm đến 4 năm 6 tháng tù;
Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy vật chứng vụ án.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã ăn năn, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Xuân Lộc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Lộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký ghi biên bản phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyển, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ai ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Phạm Phú Q khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội của mình như nội dung Bản cáo trạng đã nêu, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào lúc 15 giờ 45 phút ngày 09-8-2021, tại khu vực chợ XĐ thuộc ấp ND, xã XĐ, huyện X, tỉnh Đồng Nai, lực lượng Công an xã XĐ tuần tra phát hiện Phạm Phú Q có hành vi cất giấu trong túi áo khoác 01 gói ny lon, có các hạt tinh thể màu trắng, kết quả giám định là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 4,9434 gam, nên đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong toàn bộ tang vật theo quy định. Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Phạm Phú Q phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điều 249, Bộ luật Hình sự năm 2015, như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về chế độ quản lý các chất ma túy, nên cần đưa ra xét xử và áp dụng mức hình phạt nghiêm, nhằm răn đe bị cáo và để giáo dục, phòng ngừa chung.
Về tình tiết định khung hình phạt:
Bị cáo tàng trữ chất ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 4,9434 gam (thuộc phạm vi từ 0,1 gam đến dưới 05 gam), bị cáo không có tình tiết định khung tăng nặng, nên bị xét xử tại Điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Do đó, cũng xem xét cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
* Bị cáo Phạm Phú Q khai nhờ người thanh niên tên Tèo giới thiệu mua ma túy của người thanh niên không rõ nhân thân lai lịch, nhưng chưa xác định được nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Xuân Lộc tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau.
* Đối với anh Phạm Ngọc T có đi cùng nhưng không biết bị cáo đi mua ma túy và cũng không giúp sức cho bị cáo trong việc tàng trữ trái phép chất ma túy nên không truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, qua kết quả xét nghiệm Phạm Ngọc T có hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, nên Công an huyện Xuân Lộc đã xử phạt vi phạm hành chính Phạm Ngọc T là đúng quy định pháp luật.
Về vật chứng:
- 01 (Một) phong bì được niêm phong mẫu vật sau giám định số 1665/KLGĐ-PC09 ngày 18-8-2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai; 01 (Một) vỏ gói nylon kích thước 03cm x 06cm, bị cháy xém và 01 (Một) đoạn băng keo, màu xanh, là ma túy và dụng cụ bị cáo sử dụng tàng trữ ma túy, nên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với xe mô tô mang biển số 60F3-374.66, thuộc quyền sở hữu hợp pháp của anh Võ Hải H việc Phạm Phú Q sử dụng xe mô thực hiện hành vi phạm tội, anh không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Xuân Lộc đã trả lại cho anh Võ Hải H là đúng quy định pháp luật.
Về án phí:
Bị cáo Phạm Phú Q phải nộp tiền án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Phạm Phú Q phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Áp dụng Điểm c, khoản 1, Điều 249; Điểm s, khoản 1, Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt: Phạm Phú Q 04 (Bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 09-8-2021.
2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 (Một) cái phong bì được niêm phong mẫu vật sau giám định số 1665/KLGĐ-PC09 ngày 18-8-2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai;
- 01 (Một) vỏ gói nylon kích thước 03cm x 06cm, bị cháy xém;
- 01 (Một) đoạn băng keo, màu xanh;
Tất cả đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Lộc ngày 15-11-2021.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí.
Phạm Phú Q phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tròn kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - TAND. Tỉnh Đồng Nai; - VKSND. Tỉnh Đồng Nai; - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai; - Công an H.Xuân Lộc; - VKSND. H.Xuân Lộc; - Chi cục Thi hành án dân sự H.Xuân Lộc; - UBND. xã XB, H.CM; - Bị cáo; - Hồ sơ thi hành án; - Lưu án văn, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Anh Dũng |