vanban.org

Bản án 155/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Thuận An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 12/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Phạm Chí M phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm chí M về tội tàng trữ tráiphép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
  • Tòa quyết gì? Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THUẬN AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Bản án số: 155/2020/HS-ST
Ngày 12 - 6 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Sỹ Trứ.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Ngọc Hồng.

Bà Huỳnh Ngọc Sƣơng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Công Tứ – Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Lê Ngọc Ấn - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 6 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 152/2020/TLST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 147/2020/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:

Phạm Chí M, sinh năm 1996 tại tỉnh Bình Dƣơng; nơi cƣ trú: 102/1A khu phố T, phƣờng A, thành phố T, tỉnh Bình Dƣơng; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Chí L và bà Du Thị Ú; tiền án: Không; tiền sự: Ngày 23/11/2018, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phƣờng An Thạnh, thị xã Thuận An (nay là thành phố Thuận An) áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phƣờng, thị trấn thời hạn 03 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (Quyết định 177B/QĐ-UBND); bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 23/3/2020.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Những người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng:

Bà Du Thị Ú, sinh năm 1972. Có mặt

Ông Phạm Chí Q, sinh năm 1998. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Khoảng 01 giờ 00 phút, ngày 23/3/2020, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy Công an thị xã Thuận An (nay là thành phố Thuận An) phối hợp Công an phƣờng An Thạnh tiến hành kiểm tra hành chính ngôi nhà địa chỉ số 102/1A khu phố Thạnh Hòa B, phƣờng An Thạnh do bà Du Thị Ú làm chủ thì phát hiện Phạm Chí M là con bà Ú có biểu hiện nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy nên tiến hành kiểm tra thì phát hiện bên trong túi quần phía trƣớc bên trái của M có 01 gói nylon dán kín, bên trong có chứa tinh thể màu trắng (nghi là ma túy tổng hợp) nên lập biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang, thu giữ tang vật.

Quá trình điều tra xác định, Phạm Chí M là ngƣời sử dụng trái phép chất ma túy, loại ma túy đá. Vào khoảng 19 giờ 00 phút ngày 22/3/2020, M gặp một ngƣời thanh niên tại phƣờng An Thạnh mua 01 gói ma túy đá với giá 500.000 đồng đƣa về nhà cất giữ để sử dụng thì bị lực lƣợng công an phát hiện bắt quả tang.

Tại Kết luận giám định số 161/MT-PC09 ngày 31/3/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận: 01 gói nylon hàn kín gửi giám định là ma túy, có khối lƣợng: 1,0295 gam, loại Methamphetamine.

Cáo trạng số 166/CT-VKS-TA ngày 28/5/2020 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố bị cáo Phạm Chí M về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đƣợc sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định nhƣ bản cáo trạng đã truy tố và xác định: Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị Cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp xử lý hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự .

Kiểm sát viên đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Chí M mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội giống nội dung Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo đã ăn năn hối cải nên xin đƣợc giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội làm lại cuộc đời.

Ngƣời làm chứng Du Thị Ú, Phạm Chí Q cùng trình bày: Khi Công an tiến hành kiểm tra hành chính tại nhà bà Ú thì bà Ú, ông Q có thấy Công an thu giữ trong ngƣời bị cáo M 01 gói ma túy.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an thành phố Thuận An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những ngƣời tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định.

Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với các tình tiết nhƣ bản cáo trạng đã truy tố, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án về thời gian địa điểm, quá trình thực hiện hành vi phạm tội và vật chứng thu giữ. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định:

Khoảng 01 giờ 00 phút, ngày 23/3/2020, tại số nhà địa chỉ số 102/1A khu phố Thạnh Hòa B, phƣờng An Thạnh, thành phố Thuận An bị cáo Phạm Chí M thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị cơ quan Công an kiểm tra, bắt phạm tội quả tang và thu giữ cùng tang vật.

Tại Kết luận giám định số 161/MT-PC09 ngày 31/3/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng kết luận: 01 gói nylon hàn kín bên trong có chứa tinh thể màu trắng đã đƣợc niêm phong bên ngoài bì thƣ có chữ ký của ngƣời bị bắt Phạm Chí M, cán bộ niêm phong Nguyễn Viết C và dấu Công an phƣờng An Thạnh gửi giám định là ma túy, có khối lƣợng: 1,0295 gam, loại Methamphetamine. Số ma túy này bị cáo tàng trữ để sử dụng, do đó hành vi của bị cáo đã thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật. Mức đề nghị hình phạt của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo là phù hợp với hành vi bị cáo đã thực hiện.

Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nƣớc về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây ra sự nghiện ngập và mầm mống của các tệ nạn xã hội khác nhƣng vì muốn có ma túy sử dụng nên bị cáo đã cố ý phạm tội. Bị cáo có nhân thân xấu, là ngƣời nghiện ma túy, đã từng bị ngƣời có thẩm quyền áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phƣờng, trị trấn về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhƣng không lấy đó làm bài học mà lại tiếp tục có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng là thể hiện sự coi thƣờng pháp luật nên cần áp dụng mức hình phạt tƣơng xứng với hành vi bị cáo đã thực hiện có xem xét đến tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự nên đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Đối với đối tƣợng bán ma túy cho bị cáo tại khu vực phƣờng An Thạnh nhƣng không có thông tin đầy đủ về đối tƣợng trên nên không có cơ sở để xác minh xử lý.

Về xử lý vật chứng: Đối với 01 bì thƣ đã niêm phong ghi vụ số 161/MT-PC09 (mẫu vật hoàn lại sau giám định) của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng, bên ngoài có chữ ký của ngƣời chứng kiến Phạm Chí M, cán bộ giao mẫu Ngô Minh T, cán bộ nhận mẫu Đoàn Nguyễn Thiện Q và dấu niêm phong Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng (kèm theo kết luận giám định 161/MT-PC09 ngày 31/3/2020) và 01 quần tây màu đen, không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

- Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố bị cáo Phạm Chí M phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Phạm Chí M 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/3/2020.

2. Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 01 bì thƣ đã niêm phong ghi vụ số 161/MT-PC09 (mẫu vật hoàn lại sau giám định) của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng, bên ngoài có chữ ký của ngƣời chứng kiến Phạm Chí M, cán bộ giao mẫu Ngô Minh T, cán bộ nhận mẫu Đoàn Nguyễn Thiện Q và dấu niêm phong Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dƣơng (kèm theo kết luận giám định 161/MT-PC09 ngày 31/3/2020) và 01 quần tây màu đen. (theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 19/5/2020).

3. Về án phí: Bị cáo Phạm Chí M phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ