- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Lường Văn Q - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lƣờng Văn Q phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 155/2019/HSST Ngày 06-9-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Triệu Văn Quang.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Đình Bản và bà Cầm Thị Đoa.
- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Hƣơng là Thƣ ký Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Mùi Thị Quyên - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 153/2019/TLST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 156/2019/QĐST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo:
Lƣờng Văn Q - Sinh năm 1966 tại huyện M, tỉnh Sơn La; Nơi cƣ trú: Bản L, xã T, huyện M, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: trồng trọt; Trình độ văn hóa (học vấn): 7/10; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lƣờng Văn N và bà Lƣờng Thị S. Bị cáo có vợ là Lò Thị H; có 03 con; tiền án, tiền sự: Không, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/6/2019. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Khoảng 10 giờ ngày 08/6/2019 Lƣờng Văn Q (có lý lịch nêu trên) một mình đi bộ từ nhà ở ra đầu đƣờng liên xã rồi xin đi nhờ xe máy của một ngƣời đàn ông không quen biết đến khu vực tiểu khu Pa Khen 1, thị trấn Nông Trƣờng Mộc Châu, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La mục đích để tìm mua ma túy để sử dụng. Khi tới nơi, Q xuống xe và đi bộ trên đƣờng dân sinh tiểu khu Pa Khen 1, thị trấn Nông trƣờng Mộc Châu, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La thì gặp một ngƣời đàn ông dân tộc Mông không quen biết khoảng 30 tuổi. Qua trao đổi, Q hỏi và mua đƣợc của ngƣời đó 01 gói giấy có chữ TĂM TÌNH THƢƠNG bên trong đựng cục chất bột màu trắng là Heroine với giá 50 000 đồng. Sau đó Q cầm gói Heroine trong long bàn tay trái rồi đi bộ tìm nơi để sử dụng ma túy thì bị Tổ công tác Công an huyện Mộc Châu phát hiện bắt quả tang. Căn cứ hành vi vi phạm của Lƣờng Văn Q, tổ công tác đã lập biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng và dẫn giải Lƣờng Văn Q về trụ sở cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu để điều tra làm rõ. Vật chứng thu giữ: 01 gói giấy có chữ TĂM TÌNH THƢƠNG bên trong đựng cục chất bột màu trắng là Heroine.
Ngày 08/6/2019, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu phối hợp với VKSND huyện Mộc Châu và phòng Kỹ Thuật Hình sự - Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành mở niêm phong, xác định khối lƣợng, lấy mẫu giám định số cục chất bột màu trắng nghi là Heroine thu giữ của Lƣờng Văn Q đƣợc khối lƣợng 0,2 gam, đồng thời lấy 0,1 gam làm mẫu gửi giám định, mẫu kí hiệu “Q”
Tại kết luận giám định số 1060 ngày 11/6/2019 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu Q là ma túy; loại Heroine; tổng khối lƣợng của mẫu gửi giám định là 0,1 gam. Tổng khối lƣợng ma túy thu giữ là 0,2 gam, loại Heroine.
Bản cáo trạng số 153/CT-VKSMC ngày 22/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu truy tố Lƣờng Văn Q về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lƣờng Văn Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng các căn cứ pháp luật xử phạt bị cáo nhƣ sau:
1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lƣờng Văn Q từ 18 tháng đến 21 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015; khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Về vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi vật chứng thu giữ vụ: Lƣờng Văn Q, bắt ngày: 08/6/2019; Bên trong đựng 0,1gam Heroine cùng vỏ gói niêm phong ban đầu.
3. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Lƣờng Văn Q khai nhận hành vi phạm tội của mình nhƣ đã khai trong quá trình điều tra.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo và trách nhiệm hình sự:
Tại phiên toà, bị cáo vẫn giữ nguyên lời khai tại Cơ quan điều tra, bị cáo không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án. Bị cáo hoàn toàn nhất trí với cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc bị cáo đã thực hiện.
Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang lập hồi 12 giờ 10 phút ngày 08/6/2019; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; kết luận giám định, lời khai của ngƣời chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Ngày 08/6/2019 bị cáo Lƣờng Văn Q đã có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói Heroin có khối lƣợng 0,2 gam mục đích để sử dụng. Hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm tới chế độ quản lý độc quyền chất ma tuý của Nhà nƣớc, ảnh hƣởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phƣơng, làm gia tăng các tệ nạn xã hội.
Xét về nhân thân của bị cáo thấy rằng bị cáo có nhân thân xấu, là đối tƣợng nghiện ma tuý, bị cáo nhận thức rõ về tác hại của ma túy nhƣng vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm khắc tƣơng xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, cần cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian là cần thiết, có nhƣ vậy mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có bố mẹ là ngƣời có công với cách mạng là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 cần áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay thấy rằng bị cáo là đối tƣợng nghiện ma túy, không có tài sản gì có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
Về vật chứng của vụ án:
Đối với 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi vật chứng thu giữ vụ: Lƣờng Văn Q, bắt ngày: 08/6/2019; Bên trong đựng 0,1gam Heroine cùng vỏ gói niêm phong ban đầu. Xét là vật nhà nƣớc cấm lƣu hành, vật không có giá trị sử dụng. Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự cần tịch thu tiêu huỷ.
Đối với ngƣời đàn ông dân tộc Mông đã bán ma túy cho Lƣờng Văn Q ngày 08/6/2019 (nhƣ bị cáo khai). Quá trình điều tra không xác định đƣợc lai lịch, địa chỉ của ngƣời này, do đó không có căn cứ để điều tra, xử lý.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Xét thấy thời hạn tạm giam của bị cáo còn trên 45 ngày, do đó Hội đồng xét xử không ra quyết định tạm giam sau phiên tòa.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Lƣờng Văn Q phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Lƣờng Văn Q 18 (Mƣời tám) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 08/6/2019.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Về vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi vật chứng thu giữ vụ: Lƣờng Văn Q, bắt ngày: 08/6/2019; Bên trong đựng 0,1gam Heroine cùng vỏ gói niêm phong ban đầu
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Lƣờng Văn Q phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh Sơn La; - VKSND tỉnh Sơn La; - VKSND huyện Mộc Châu; - Công an huyện Mộc Châu; - Chi cục THADS huyện Mộc Châu; - THAHS; - Sở Tƣ pháp tỉnh Sơn La; - Bị cáo; - Lƣu: hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Triệu Văn Quang |