- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn N - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lò Văn N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự - Tịch thu tiêu hủy; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH SƠN LA Bản án số:155/2018/HSST Ngày 24-10-2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA
Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đèo Văn Quỳnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Quàng Văn Tiện, ông Lƣơng Văn Vịnh.
Thƣ ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Nhung – Thƣ ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên toà: Ông Trần Mạnh Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 10 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số:147/2018/TLST- HS ngày 10 tháng 9 năm 2018 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 154/2018/QĐXXST - HS ngày 11 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn N, (tên gọi khác không), sinh năm 1974. Nơi sinh Sông Mã, Sơn La. Nơi ở và ĐKHKTT: Bản PP, xã NM, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Nghề nghiệp: Trồng trọt. Trình độ văn hoá: 2/12; Dân tộc: Thái; Quốc tịch Việt Nam; Tôn giáo: Không; Đảng phái: không. Con ông: Lò Văn B; con bà Lò Thị Ph (đã chết), có vợ là Tòng Thị Ch và 02 (con lớn sinh năm 1999, con nhỏ sinh năm 2001). Tiền án, tiền sự: không.
Bị bắt tạm giam từ ngày 28/6/2018 cho đến nay có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Hồi 17 giờ 00 phút ngày 28/6/2018 Tổ công tác Công an huyện Sông Mã phối hợp với Ban Công an xã NM làm nhiệm vụ tại khu vực Bản PP, xã NM phát hiện bắt quả tang Lò Văn N có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ là 01 gói Nilon màu hồng bên trong có chứa chất bột màu trắng theo N khai là Heroine. Ngày 29/5/2018 tại Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La tiến hành mở niêm phong, cân tịnh trích mẫu vật chứng gửi giám định. Kết quả cân tịnh số bột màu trắng thu của N có khối lƣợng 0,18 gam, đã sử dụng hết làm mẫu gửi giám định ký hiệu N.
Tại kết luận giám định số: 838 ngày 05 tháng 7 năm 2018 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận” Mẫu gửi giám định ký hiệu N là chất ma túy, loại chất Heroine; Khối lượng ma túy thu giữ 0,18 gam.
Tại cơ quan điều tra bị cáo Lò Văn N khai nhận: Do chơi bời, khoảng 18 giờ 00 phút ngày 26/6/2018 N đi bộ một mình từ nhà sang bản Tin Tốc, xã Yên Hƣng tìm mua ma túy về sử dụng, đi đến đầu bản N gặp và hỏi mua đƣợc của ngƣời đàn ông dân tộc mông không quen 01 gói heroine với giá 100.000 đồng, Sau khi mua đƣợc N sử dụng một ít tại lán nƣơng của mình và số còn lại N gói lại cất giấu trong túi quần mang mặc. Đến ngày 28/6/2018 bị cáo đi về đến khu vực Bản PP, xã NM thì bị kiểm tra phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng.
Tại bản cáo trạng số: 110/CT-VKSSM ngày 10/9/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đã truy tố bị cáo Lò Văn N về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã sau khi phân tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố Lò Văn N về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lò Văn N từ 16 đến 20 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: Đề nghị tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì thƣ màu trắng do bƣu điện Việt Nam phát hành.
Bị cáo thuộc gia đình hộ nghèo nên miễn án phí theo quy định.
Tại phần tranh luận: Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Trong lời nói sau cùng bị cáo xin đƣợc giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:
. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Sông Mã, Điều tra viên, Viện kiểm sát huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục đƣợc quy định trong tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Tại phiên tòa hôm nay: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang, lời khai ngƣời làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở chứng minh: Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 28 tháng 6 năm 2018 Lò Văn N có hành vi cất giấu trái phép 01 gói ma túy có khối lƣợng 0,18 gam là Heroine nhằm mục đích sử dụng. Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã truy tố bị cáo là có căn cứ phù hợp với quy định của pháp luật.
Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của Lò Văn N phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt đƣợc quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS.
Xét về tính chất của vụ án: Tội phạm ma túy là những tội phạm nguy hiểm, là hiểm họa lớn cho toàn xã hội, ma túy không những làm ảnh hƣởng đến sức khỏe, phẩm giá của con ngƣời, phá hoại hạnh phúc gia đình mà còn ảnh hƣởng nghiêm trọng trật tự an toàn xã hội, bị cáo đã bất chấp dƣ luận xã hội, bất chấp quy định của Nhà nƣớc, ngang nhiên mua ma túy về tàng trữ để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền chất ma tuý của Nhà nƣớc, xâm phạm đến trật tự an toàn tại địa phƣơng, gây dƣ luận xấu trong quần chúng nhân dân, làm gia tăng các tệ nạn xã hội. Do vậy cần phải đƣợc xử lý nghiêm minh.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhận thức nhƣng không chịu tu chí làm ăn sống thiếu trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội lao vào con đƣờng sử dụng trái phép chất ma túy dẫn đến phạm tội do đó cần cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian là cần thiết, có nhƣ vậy mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét giảm trách nhiệm hình sự cho bị cáo một phần vì sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đƣợc quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Theo biên bản xác minh và lời khai của bị cáo tại phiên tòa, xác định bị cáo và gia đình thuộc hộ nghèo không có tài sản riêng, gia đình hoàn cảnh khó khăn về kinh tế nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong chứa 01 mảnh nilon màu hồng và 01 phong bì niêm phong vật chứng ban đầu là vật không có giá trị sử dụng tịch thu tiêu huỷ.
Về nguồn gốc chất ma túy: Theo bị cáo khai mua của ngƣời đàn ông dân tộc Mông không quen biết ở bản Tin Tốc, xã Yên Hƣng, quá trình điều tra, xác minh không xác định đƣợc tên tuổi địa chỉ cụ thể, do vậy Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.
Về án phí: Gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo nên đƣợc miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Tuyên bố bị cáo Lò Văn N phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
- Xử phạt Lò Văn N 16 (mười sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 28/6/2018)
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì thƣ màu trắng do PC 54 Công an tỉnh phát hành. Mặt trƣớc ghi “vật chứng vụ Lò Văn N, SN 1974, ở bản PP, NM, Sông Mã, Sơn La. Hành vi cất giấu trái phép chất ma túy.Gồm 01 mảnh nilon màu hồng + 01 phong bì thƣ niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở”. Trên mặt đoạn giấy trắng niêm phong mặt sau phong bì có ghi dòng chữ “ Cơ quan CSĐT – Công an huyện Sông Mã ngày 29/6/2018 và có đầy đủ chữ ký, họ tên của thành phần tham gia niêm phong cùng 02 hình dấu đỏ của Cơ quan CSĐT-Công an huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, ngày 27 tháng 8 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La)
3. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn N.
Bị cáo đƣợc quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - Toà án ND tỉnh Sơn La; - VKSND huyện Sông Mã; - Công an huyện Sông Mã; - THAHS + DS (4b); - STP tỉnh; - Bị cáo; - Chánh án; - Lƣu hồ sơ; -Lƣu VP. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – chủ tọa phiên toà Đèo Văn Quỳnh THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đèo Văn Quỳnh |