vanban.org

Bản án 155/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 21/06/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn V n B, Nguyễn Chi n T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

C n cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn V n B, Nguyễn Chi n T. Xử phạt bị cáo Nguyễn V n B 01 (một) n m 04 (bốn) tháng tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn B cùng đồng phạm - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn V n B, Nguyễn Chi n T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN
TỈNH BÌNH DƯƠNG
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 155 /2018/HS-ST
Ngày 21-6-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Vũ Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Kim Hoa.

2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Diễm.

- Thư ký phiên toà: Bà Thái Thị Nhung, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên toà: Ông Nguyễn V n Chi n, Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 6 n m 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 132/2018/HSST ngày 17 tháng 5 n m 2018, theo Quy t định đưa vụ án ra xét xử số 156/2018/HSST-QĐ ngày 07/6/2018 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn V n B, sinh n m 1988 tại tỉnh Nam Định; thường trú: Thôn 5 xã T, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; con ông Nguyễn Đình L, sinh n m 1963 và con bà Tạ Thị H, sinh n m 1963; bị cáo có 4 anh em ruột (lớn sinh n m 1984, nh sinh n m 2004); tiền án, tiền sự: Không có. Nhân thân: Ngày 18/8/2006 Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xử phạt 06 n m tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo bản án số 192. Ngày 30/8/2010 bị cáo được đặc xá tha tù; b t tạm giam ngày 25/03/2018, có mặt.

2. Nguyễn Chi n T, sinh n m 1993 tại tỉnh An Giang; thường trú: Tổ 3 khóm 4, phường A, Thành phố Đ, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Đức T, sinh n m 1964 và con bà Nguyễn Thị D, sinh n m 1964; bị cáo có 1 chị ruột sinh n m 1985; tiền án, tiền sự: Không có; b t tạm giam ngày 25/03/2018, có mặt.

Ng i tham gia t t ng hác

1. Ng i làm chứng

1. Nguyễn Hồng P, sinh n m 1996; thường trú: Khu phố T, phường H, thị xã K, tỉnh Bình Dương, v ng mặt.

2. Phạm Sông T, sinh n m 1994; thường trú: Khu phố 1, phường B, thị xã K, tỉnh Bình Dương, v ng mặt.

3. Lê Thanh Q, sinh n m 1991; thường trú: Khu phố C, phường H, thị xã K, tỉnh Bình Dương, v ng mặt.

4. Trần Thị T, sinh n m 1984; trú tại: Tổ 42 khu phố L, phường H, thị xã K, tỉnh Bình Dương, v ng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn bi n tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm t t như sau:

Bị cáo Nguyễn V n B, Nguyễn Chi n T sử dụng ma túy đá (Methamphetamine). Khoảng 23 giờ ngày 24/3/2018, bị cáo T cùng với Nguyễn Hồng P, Phạm Sông T đ n phòng ở trọ bị cáo B chơi, tại đây bị cáo T rủ B đi mua ma túy sử dụng (T góp 300.000 đồng, B góp 700.000 đồng), B điện thoại cho H (không rõ nhân thân) h i mua 1.000.000 đồng ma túy. T sử dụng xe mô tô biển số 35F3 -6536 mượn của H (không rõ nhân thân) chở B đ n gặp H tại khu phố Đông Tác, phường Tân Đông Hiệp, thị xã Dĩ An mua, T chở B về lại phòng ở trọ của B, lúc này có Lê Thanh Q là bạn của B đ n chơi, H đ n gặp T lấy xe mô tô về. B lấy 01 phần ma túy đã mua b vào dụng cụ sử dụng rồi cùng T, P, T và Q sử dụng ma túy, số ma túy còn lại B, T để trong hộp đựng m t kính để góc phòng ở trọ. Đ n 00 giờ 10 phút ngày 25/3/2018 Công an phường Tân Đông Hiệp, thị xã Dĩ An kiểm tra hành chính phòng ở trọ của B lập biên bản b t giữ người có hành vi phạm tội quả tang đối với B, T, P, T và Q.

Vật chứng thu giữ : 01 bịch nylong hàn kín bên trong chứa chất tinh thể màu tr ng; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 n bằng thủy tinh, 01 ống hút; 01 bình nước suối; 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1280 màu đen có sim số 01633.987.003 của bị cáo B.

K t luận giám định số 181/MT - PC54 ngày 29/03/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương k t luận mẫu tinh thể giám định màu tr ng trong bì thư niêm phong có chữ ký Nguyễn V n B, Nguyễn Chi n T, Nguyễn Hồng P, Phạm Song T, Lê Thành Q, người chứng ki n Trần Thị T là ma túy, có trọng lượng 0,9394 gam loại Methamphetamine.

Đối với người tên H (không rõ nhân thân) bán ma túy cho B, T. Công an thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tách xác minh điều tra xử lý sau. Nguyễn Hồng P, Phạm Sông T, Lê Thành Q sử dụng trái phép chất ma túy. Công an thị xã Dĩ An ra quy t định xử phạt vi phạm hành chính mỗi người 750.000 đồng.

Cáo trạng số 145/QĐ - KSĐT ngày 15/5/2018, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn V n B, Nguyễn Chi n T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quy t định truy tố theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã nêu, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình ti t t ng nặng trách nhiệm hình sự, tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

p dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo B, T từ 1 n m 6 tháng đ n 2 n m tù.

Về vật chứng của vụ án đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu 01 sim điện thoại có số 0163.398.7003; 01 v hộp đựng kính; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 n bằng thủy tinh, 01 ống hút, 01 bình nước suối; 01 bì thư niêm phong số 181/PC 54 chứa Methamphetamine trọng lượng sau giám định 0,8539gam.

Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen, số IMEI : 355201594088172.

Trước khi Hội đồng xét xử nghị án các bị cáo nói lời sau cùng:

Bị cáo B: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức án để bị cáo sớm về với gia đình xã hội.

Bị cáo T: Bị cáo bi t việc mình làm là vi phạm pháp luật, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức án thấp nhất cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, c n cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quy t định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý ki n hay khi u nại gì về hành vi, quy t định của Cơ quan ti n hành tố tụng, người ti n hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quy t định tố tụng của Cơ quan ti n hành tố tụng, người ti n hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án: Tại phiên Tòa bị cáo Nguyễn V n B, Nguyễn Chi n T khai nhận vào khoảng 23 giờ ngày 24/3/2018, bị cáo T cùng với Nguyễn Hồng P, Phạm Sông T đ n phòng ở trọ bị cáo B, bị cáo T rủ B mua ma túy sử dụng (T góp 300.000 đồng, B góp 700.000 đồng), T chở B đ n gặp H mua 1.000.000 đồng ma túy mang về phòng trọ B, T lấy 01 phần ma túy cùng với bạn Nguyễn Hồng P, Phạm Sông T, Lê Thanh Q sử dụng, phần ma túy còn lại B, T b vào hộp đựng m t kính để góc phòng ở trọ của B. Đ n 00 giờ 10 phút, ngày 25/3/2018 Công an phường Tân Đông Hiệp, thị xã Dĩ An kiểm tra hành chính phòng ở trọ của B thu giữ ma túy. K t quả giám định ma túy B, T mua là Methamphetamine có trọng lượng 0,9394. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục II, STT 67, Nghị định 82 ngày 19/7/2013 của Chính phủ.

Tại Đi u 249 Tội tàng trữ trái phép chất ma túy ộ lu t Hình s quy đ nh:

1. Ng i nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà hông nhằm m c đích mua bán, v n chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các tr ng hợp sau đây, thì b phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

a)…

c) Heroine,Cocaine,Methamphetamine,Amphetamine,MDMA hoặc XLR -11 có h i l ợng từ 0,1gam đến d ới 05gam;

Như vậy, bị cáo B và T góp tiền mua ma túy về phòng ở trọ sử dụng, qua giám định trọng lượng ma túy (Methamphetamine) thu giữ từ B, T có trọng lượng 0,9394gam, hành vi trên của bị cáo B, T đủ y u tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Bản cáo trạng số 145/QĐ-KSĐT ngày 15/5/2018 của Viện kiểm sát thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo B, T cũng như trình bày luận tội của Kiểm sát viên ngày hôm nay đối với các bị cáo là có c n cứ, đúng pháp luật.

Về tính chất mức độ tội phạm: Tội phạm bị cáo B, T bị truy tố, xét xử là tội phạm nghiêm trọng, các bị cáo là người có n ng lực trách nhiệm hình sự, các bị cáo thực hiện phạm tội một cách cố ý. Hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đ n chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về ma túy, ảnh hưởng xấu đ n tình hình trật tự trị an tại địa phương. Nhất là trong tình hình hiện nay hành vi mua bán chất ma túy, tệ nạn nghiện ma túy xảy ra nhiều có diễn bi n phức tạp, số người sử dụng ma túy ngày càng được tr hóa đây cũng là nguyên nhân dẫn đ n tội phạm hình sự gia t ng. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo B, T mức án tù có thời hạn, tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đ n các tình ti t t ng nặng trách nhiệm hình sự, tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành người công dân có ích cho gia đình, xã hội cũng như có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Về tình ti t t ng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo B, T không có.

Về tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo B, T thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, n n n hối cải. Tình ti t trên được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự .

Về nhân thân: Bị cáo B, T là người có nhân thân xấu thể hiện việc các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, các bị cáo sử dụng ma túy trong thời gian dài, bị cáo B đã bị xử phạt tù về hành vi mua bán trái phép chất ma túy, tuy bị cáo được xóa án tích nhưng lần phạm tội này thể hiện sự không hướng thiện của bản thân cũng như việc chấp hành pháp luật.

Trong vụ án có đồng phạm, bị cáo T là người rủ bị cáo B đi mua ma túy sử dụng, bị cáo T góp 300.000 đồng, bị cáo B góp 700.000 đồng. Các bị cáo cùng tham gia với vai trò người thực hành. Xét về vai trò, nhân thân thì mức án bị cáo B phải cao hơn so với bị cáo T.

Đối với người tên H bán ma túy cho bị cáo B, T do không r nhân thân. Nguyễn Hồng P, Phạm Sông T, Lê Thanh Q sử dụng trái phép chất ma túy. Công an thị xã Dĩ An ti p tục xác minh đối với H cũng như ra quy t định xử phạt hành chính đối với P, T, Q là phù hợp pháp luật.

Về vật chứng: Quá trình điều tra thu giữ ma túy của bị cáo B, T; bộ dụng cụ sử dụng ma túy; 01 hộp v nhựa đựng kính; sim điện thoại số 0163.398.7003 vật chứng liên quan, sử dụng vào việc phạm tội do vậy tịch thu tiêu hủy, đối với điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 của bị cáo B cần tịch thu sung quỹ nhà nước

Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương đưa ra tình ti t giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, việc xử lý vật chứng. Xét quan điểm trên phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử do vậy được chấp nhận. Riêng mức hình phạt đối với bị cáo B, T có phần nghiêm kh c, Hội đồng xét xử xử mức hình phạt các bị cáo thấp hơn so với mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

Án phí sơ thẩm: Bị cáo B, T phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn V n B, Nguyễn Chi n T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

C n cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn V n B, Nguyễn Chi n T.

Xử phạt bị cáo Nguyễn V n B 01 (một) n m 04 (bốn) tháng tù.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Chi n T 01 (một) n m tù.

Thời hạn tù của bị cáo B, T tính từ ngày 25/3/2018

2. Về vật chứng: C n cứ Điều 46, điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự. Điều 89, điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 sim điện thoại có số 0163.398.7003; 01 v hộp đựng kính; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 n bằng thủy tinh, 01 ống hút, 01 bình nước suối; 01 bì thư niêm phong số 181/PC 54 chứa Methamphetamine trọng lượng sau giám định 0,8539 gam.

Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 1280 màu đen, số IMEI : 355201594088172.

Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 17/5/2018

3. Về án phí: C n cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự ; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quy t số 326/2016/UBTVQH 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14.

Các bị cáo Nguyễn V n B, Nguyễn Chi n T mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai tr m nghìn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ