vanban.org

Bản án 155/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

[1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thu C đối với bà Huỳnh Trúc P và ông Lê Tuấn K. Buộc bà Huỳnh Trúc P và ông Lê Tuấn K trả cho bà Nguyễn Thu C 1.200.000 đồng và 01 chỉ vàng 24K. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "ds"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
  • Căn cứ chính? Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP Hướng dẫn thi hành một số quy…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CÁI NƯỚC
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:155/2018/DS-ST
Ngày: 31–7–2018
V/v “Đòi lại tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Kỳ

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Võ Tấn Liêm

Ông Nguyễn Quốc Trung

- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Chí Thêm là Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

Ngày 31 tháng 7 năm 20 18 tại Tòa án nhân dân huyện Cái Nước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 85/2018/TLST-DS ngày 23 tháng 4 năm 2018 về việc “Đòi lại tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 204/2018/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 6 năm 2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thu C, sinh năm 1967 (Có mặt)

Địa chỉ: Ấp RDC, xã HM, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

Bị đơn: Bà Huỳnh Trúc P, sinh năm 1985 (Có mặt)

Địa chỉ: Ấp CB, xã HM, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Lê Tuấn K, sinh năm 1975 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp CB, xã HM, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 23/4/2018 và các lời khai tại Tòa án, bà Nguyễn Thu C là nguyên đơn trình bày:

Vào ngày 10/7/2008 âm lịch bà có cho vợ chồng bà Huỳnh Trúc P và ông Lê Tuấn K vay số tiền 2.000.000 đồng và 01 chỉ vàng 24K, lãi 50.000 đồng/ tháng. Khi cho vay không có làm giấy. Trong khoảng thời gian từ năm 2007 đến năm 2009 bà P có trả cho bà số tiền 800.000 đồng, từ năm 2009 đến nay bà P và ông K không trả vốn và lãi cho bà. Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà P và ông K trả cho bà số tiền 1.200.000 đồng và 01 chỉ vàng 24K.

Tại các biên bản hòa giải và tại phiên tòa, bà Huỳnh Trúc P là bị đơn trình bày:

Bà thừa nhận nội dung bà C trình bày về việc vợ chồng bà vay tiền của bà C là đúng, đến nay vợ chồng bà còn thiếu bà C số tiền 1.200.000 đồng và 01 chỉ vàng 24K.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Do bị đơn có địa chỉ cư trú tại ấp CB, xã HM, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau nên Tòa án nhân dân huyện Cái Nước thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Đối với ông Lê Tuấn K là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để đến tham gia phiên tòa xét xử vụ án, nhưng ông K vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông Khương theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp về giao dịch dân sự, hợp đồng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Cụ thể là tranh chấp về việc “Đòi lại tài sản” theo quy định tại Điều 166 Bộ luật dân sự.

Về nội dung vụ án: Qua xét hỏi và tranh tụng tại phiên tòa, nhận định của Tòa án về nội dung tranh chấp vụ án như sau: Giao dịch vay tiền và vàng giữa các đương sự là có xảy ra trên thực tế, được bà C và bà P thừa nhận. Tại phiên tòa, bà C vẫn giữ quan điểm yêu cầu bà P và ông K phải trả cho bà 1.200.000 đồng 01 chỉ vàng 24K, bà P đồng ý trả số tiền và vàng theo yêu cầu của bà C.

Hội đồng xét xử thấy rằng: tranh chấp giữa các đương sự phát sinh từ việc bà C cho bà P và ông K vay 2.000.000 đồng và 01 chỉ vàng 24K vào ngày 10/7/2008 âm lịch, sau khi vay thì bà P có trả cho bà C 800.000 đồng vốn, còn nợ lại 1.200.000 đồng và 01 chỉ vàng 24K. Từ năm 2009 đến nay bà P và ông K không trả vốn và lãi cho bà C. Vì vậy, việc bà C khởi kiện của yêu cầu bà P và ông K trả lại số tiền và vàng vốn là đúng theo quy định của Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Xét thấy, bà C chỉ yêu cầu buộc bà P và ông K trả số tiền và vàng vốn còn thiếu là 1.200.000 đồng và 01 chỉ vàng 24K, tại biên bản hòa giải ngày 01/7/2010 của Ủy ban nhân dân xã HM, biên bản hòa giải ngày 19/6/2018 của Tòa án và tại phiên tòa bà P đã thừa nhận còn thiếu số tiền và vàng như yêu cầu của bà C. Vì vậy, có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà C, buộc bà P và ông K phải trả cho bà C 1.200.000 đồng và 01 chỉ vàng 24K.

Về án phí dân sự sơ thẩm: bà P và ông K phải chịu theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 200, 227, 266, 271 và 273 Bộ Luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 166, 468 Bộ luật dân sự;

Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

[1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thu C đối với bà Huỳnh Trúc P và ông Lê Tuấn K.

Buộc bà Huỳnh Trúc P và ông Lê Tuấn K trả cho bà Nguyễn Thu C 1.200.000 đồng và 01 chỉ vàng 24K.

Đối với số tiền trên, kể từ ngày bà Nguyễn Thu C có đơn yêu cầu thi hành án thì bà Huỳnh Trúc P và ông Lê Tuấn K phải trả lãi suất đối với số tiền chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 và Điều 357 Bộ luật dân sự.

[2] Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: bà Huỳnh Trúc P và ông Lê Tuấn K phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn đồng). Bà Nguyễn Thu C có dự nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai thu tiền số 0004379 ngày 23/4/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Nước được nhận lại.

Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai, bà Nguyễn Thu C và bà Huỳnh Trúc P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Lê Tuấn K có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ