- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "huỳnh thị yên n - phạm đặng gia h"
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 154/2026/HNGĐ-ST. Ngày: 12-6-2026. V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nguyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
+ Bà Trần Thị Sẩm .
+ Ông Nguyễn Chí Thành.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Quyên - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 9 - Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Bùi Đinh Thị Huyền Đăng - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 - Vĩnh Long, Tòa án nhân dân khu vực 9 - Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 245/2026/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2026 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 124/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2026, Quyết định hoãn phiên tòa số: 111/2026/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2026 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Yến N - Sinh năm: 2003; địa chỉ: Số B, ấp Q, xã G, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).
- Bị đơn: Anh Phạm Đặng Gia H - Sinh năm: 2003; địa chỉ: Số A, ấp A, xã Đ, tỉnh Vĩnh Long (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Huỳnh Thị Yến N trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Phạm Đặng Gia H kết hôn vào năm 2025, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre vào ngày 03/02/2025 và đã được cấp giấy chứng nhận kết hôn, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc hay lừa dối. Sau khi kết hôn, chị và anh H chung sống đến tháng 02 năm 2026 thì sống ly thân; nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn chủ yếu là do bất đồng quan điểm sống, anh H không quan tâm chăm lo cho chị, con. Chị N cho rằng không còn tình cảm vợ chồng với anh H, không thể đoàn tụ được nên kiên quyết yêu cầu ly hôn với anh H, không yêu cầu cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn.
Về con chung: Chị và anh H có một người con chung là: Phạm Huỳnh Bảo N1 - Sinh ngày 22/6/2025 (người con hiện đang sống chung với chị N). Khi ly hôn, chị N yêu cầu được quyền nuôi con, không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ: Không có.
Bị đơn là anh Phạm Đặng Gia H vắng mặt trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, không gửi cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến về các nội dung có liên quan đến vụ án.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn là chị Huỳnh Thị Yến N, bị đơn là anh Phạm Đặng Gia H vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Vĩnh Long phát biểu: Thẩm phán thụ lý, giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt là chưa thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về căn cứ pháp luật được áp dụng: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Vĩnh Long đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các điều 21, 28, 35, 36, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Về việc giải quyết vụ án: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Vĩnh Long đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
(1) Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Huỳnh Thị Yến N với anh Phạm Đặng Gia H.
(2) Về con chung: Giao cho chị Huỳnh Thị Yến N được quyền nuôi người con chung giữa chị với anh H là: Phạm Huỳnh Bảo N1 - Sinh ngày 22/6/2025 (hiện đang sống chung với chị N), chị N không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
(3) Về cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn, về tài sản, về nợ: Không xem xét, giải quyết do không có yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Chị N có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” với anh H có địa chỉ tại: Ấp A, xã Đ, tỉnh Vĩnh Long nên Tòa án nhân dân khu vực 9 - Vĩnh Long thụ lý, giải quyết theo quy định tại các điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số: 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
[2] Anh H vắng mặt tại phiên hòa giải vào ngày 29/4/2026, chị N có đơn đề nghị không hòa giải nên vụ án thuộc trường hợp không hòa giải được theo quy định tại Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Chị N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh H vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai nên Tòa án xét xử vắng mặt chị N, H theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Về quan hệ hôn nhân:
[3.1] Chị N, anh H có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre (nay là Ủy ban nhân dân xã G, tỉnh Vĩnh Long) vào ngày 03/02/2025 và được cấp giấy chứng nhận kết hôn, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình nên được công nhận.
[3.2] Trên cơ sở lời trình bày của chị N, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xác định được chị N và anh H có phát sinh mâu thuẫn, đã sống ly thân từ tháng 02 năm 2026, giữa anh, chị không còn sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, mạnh ai nấy sống. Anh H không có mặt tại Tòa án để tham gia phiên hòa giải nhằm mục đích đoàn tụ, không có văn bản phản đối yêu cầu ly hôn của chị N, trong khi đó chị N kiên quyết yêu cầu ly hôn với anh H, từ đó cho thấy quan hệ hôn nhân giữa chị N với anh H đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu của chị N về việc ly hôn với anh H theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[4] Về con chung: Chị N yêu cầu được nuôi người con chung giữa chị với anh H là: Phạm Huỳnh Bảo N1 - Sinh ngày 22/6/2025. Anh H vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, không có gửi văn bản cho Tòa án có tranh chấp về việc nuôi con. Hiện nay người con còn rất nhỏ, hiện đang sống chung với chị N nên giao cho chị N được quyền tiếp tục nuôi con là phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Chị N không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con nên anh H không phải cấp dưỡng nuôi con.
[5] Về cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn, về tài sản, về nợ: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn, về tài sản và trình bày là không có nợ; anh H vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, không có gửi văn bản cho Tòa án có yêu cầu gì về việc cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn, về tài, về nợ đồng thời Tòa án cũng không nhận được đơn yêu cầu giải quyết về nợ có liên quan đến vụ án nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[6] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 - Vĩnh Long phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị N là người khởi kiện yêu cầu ly hôn nên chị phải chịu 300.000VNĐ (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; các điều 5, 147, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; tuyên: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị Yến N, cụ thể:
1/ Về quan hệ hôn nhân: Chị Huỳnh Thị Yến N được ly hôn với anh Phạm Đặng Gia H.
2/ Về con chung:
Giao cho chị Huỳnh Thị Yến N được quyền tiếp tục, trực tiếp nuôi người con chung giữa chị với anh Phạm Đặng Gia H là: Phạm Huỳnh Bảo N1 - Sinh ngày 22/6/2025 (hiện đang sống chung với chị N) cho đến khi người con đủ mười tám tuổi. Anh Phạm Đặng Gia H không phải cấp dưỡng nuôi con do chị N không yêu cầu.
Anh Phạm Đặng Gia H có quyền thăm nom con mà không ai được cản trở anh thực hiện quyền này. Trường hợp anh H lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con thì chị N có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh H.
Vì lợi ích của con chung, chị N, anh H hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3/ Về việc cấp dưỡng giữa vợ chồng khi ly hôn, về tài sản, về nợ: Không xem xét, giải quyết do không có yêu cầu.
4/ Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Huỳnh Thị Yến N phải chịu 300.000VNĐ (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn; nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm mà chị N đã nộp là: 300.000VNĐ (ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0005611 ngày 30 tháng 3 năm 2026 của Thi hành án dân sự tỉnh V; chị N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
5/ Về quyền kháng cáo: Chị Huỳnh Thị Yến N, anh Phạm Đặng Gia H vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long giải quyết lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm./. Nơi nhận:
| - Các đương sự; - UBND xã Giao Long; - VKSND khu vực 9 - Vĩnh Long; - T.H.A.D.S tỉnh Vĩnh Long; - Phòng GĐ-KT-TT và T.H.A-TAND tỉnh Vĩnh Long; - Lưu: Hồ sơ vụ án, Vp, Bp. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Văn Nguyên |