vanban.org

Bản án 154/2025/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 07/05/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Trần Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự - phạm tội tàng trữ trái phép c…"
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
T A ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
——————————
Bản án số: 154/2025/HS-ST
Ngày: 07 - 05 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG H A XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

T A ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Kiều Thị Uyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phạm Tú Nhi;

2. Ông Trần Đình Thừa.

- Thư ký phiên toà: Bà Phùng Kim Ngân, Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Vƣơng, Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 5 năm 2025 tại Hội trƣờng A, Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 127/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2025, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 150/2025/QĐXXST-HS ngày 21/4/2025 đối với bị cáo:

1. Trần Văn D, sinh năm 1988 tại tỉnh Vĩnh Long. Nơi đăng ký hộ khẩu thƣờng trú: Không; Nơi đã từng sinh sống: Ấp L, xã N, huyện T, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con bà Cao Thị M, sinh năm không rõ và bố không rõ thông tin; bị cáo có 03 anh chị em, lớn sinh năm 1982, nhỏ sinh năm 1991; bị cáo chƣa có vợ; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giam tại phân trại tạm giam khu vực thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng từ ngày 26/6/2024 đến nay. Có mặt Ngƣời chứng kiến: Ông Nguyễn Hữu S. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trần Văn D là đối tƣợng nghiện ma túy đá sống lang thang, không nghề nghiệp ổn định, từng cƣ trú tại ấp L, xã N, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.

Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 26/06/2024, tại phòng trọ thuộc khu phố T, phƣờng D, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng. Trần Văn D sử dụng điện thoại loại Nokia 105, màu đen, gắn sim số 0523091272 gọi vào số điện thoại 0914197789 và gặp ngƣời nam giới (Chƣa rõ nhân thân, lai lịch), để hỏi mua 500.000 đồng ma túy. D đƣợc một ngƣời nam giới hƣớng dẫn qua điện thoại đi đến khu vực gần chợ “T" thuộc phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng để lấy ma túy. Trên đƣờng đi, D gặp một ngƣời quen (D đã gặp trƣớc đó vài lần, nhƣng không rõ nhân thân, lai lịch) và nhờ ngƣời này chở đến khu vực chợ "” đoạn trƣớc hẻm S đƣờng N, phƣờng T, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng. D gọi điện thoại cho ngƣời bán ma túy và ngƣời này hƣớng dẫn D đi đến điểm hẹn, chờ lấy ma túy nên D nói ngƣời bạn của D đứng chờ. Khoảng 10 phút sau, có một ngƣời phụ nữ, khoảng 25 tuổi (Chƣa rõ nhân thân, lai lịch) đi bộ đến, đƣa cho D một túi rác và nói: “anh ơi bỏ rác giùm em, bên trong có đồ”. D hiểu ý là có ma túy trong túi rác nên đã đƣa cho ngƣời phụ nữ 500.000 đồng tiền mặt. Duy kiểm tra bên trong bịch rác, thì thấy có 01 khẩu trang bên trong chứa 01 túi nylon miệng kéo dính (đƣợc quấn băng keo đen) chứa tinh thể màu trắng. D đeo khẩu trang có giấu túi nylon miệng kéo dính lên mặt để ngụy trang và đem bỏ bịch rác đi, rồi quay lại chỗ ngƣời quen của D đang chờ để đi nhờ xe về. D đƣợc chở đi một đoạn thì ngƣời quen này có việc nên D xuống xe và đi bộ. Đến khoảng 17 giờ 00 phút cùng ngày, khi đi đến trƣớc quán cà phê “Cung Đàn” thuộc đƣờng T, khu phố T, phƣờng D, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng thì D nhìn thấy lực lƣợng tuần tra của Công an phƣờng D. Nhận thấy, D có dấu hiệu khả nghi nên lực lƣợng tuần tra đã tiến hành kiểm tra hành chính. Lúc này, D bỏ khẩu trang xuống đất và lực lƣợng tuần tra phát hiện 01 (một) túi nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng và D khai nhận đó là ma túy đá. Nên lực lƣợng Công an phƣờng D đã lập biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang và đƣa D về trụ sở làm việc. Sau đó, Công an phƣờng D lập hồ sơ chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng giải quyết theo thẩm quyền.

Tại Kết luận giám định số 3103/KL-KTHS(MT) ngày 05/7/2024 của Phòng K - Công an tỉnh B, kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng, gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, có khối lƣợng: 0,3924 gam.

Ngày 05/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, Lệnh tạm giam đối với Trần Văn D, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

* Vật chứng thu giữ:

- 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, gắn sim số 0523091272;

- 01 (Một) bì thƣ đƣợc niêm phong số: 3103/PC09 bên trong chứa 01 (một) túi nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng, là ma túy loại, Methamphetamine, có khối lƣợng: 0,3751 gam, mẫu vật còn lại sau giám định.

- 01 khẩu trang màu trắng xám đã qua sử dụng.

Tại cáo trạng số: 401/CT-VKS-DA ngày 16 tháng 12 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Trần Văn D, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 để xử phạt bị cáo Trần Văn D từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”.

* Xử lý vật chứng:

- Đối với 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, đây là phƣơng tiện do Trần Văn D sử dụng để liên lạc mua ma túy, đề nghị tịch thu sung công quỹ Nhà nƣớc. Đối với sim số 0523091272 đã sử dụng để liên lạc mua ma túy và không còn giá trị, đề nghị tịch thu tiêu hủy;

- Đối với 01 (Một) bì thƣ đƣợc niêm phong số: 3103/PC09 bên trong chứa 01 (một) túi nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng, là ma túy loại, Methamphetamine, có khối lƣợng: 0,3751 gam, mẫu vật còn lại sau giám định, đề nghị tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 (Một) khẩu trang màu trắng xám đã qua sử dụng, không còn giá trị sử dụng đề nghị tịch thu tiêu hủy.

* Đối với ngƣời nam giới (Chƣa rõ nhân thân, lai lịch) mà Trần Văn D đã liên lạc qua số điện thoại 0914197789 để mua ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã tiến hành tra cứu số điện thoại 091419779, xác định chủ số thuê bao trên là của Vũ Phƣơng N (sinh năm 1982; Nơi thƣờng trú: xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh). Qua xác minh, lấy lời khai của N xác định có sử dụng số điện thoại 0914197789 nhƣng trong thời gian sử dụng điện thoại có cho bạn quen biết ngoài xã hội mƣợn chơi game, không rõ nhân thân lai lịch, không nhớ ngày 26/6/2024 đã đi đâu, làm gì. Nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D sẽ tiếp tục xác minh, xử lý sau.

* Đối với ngƣời phụ nữ (chƣa rõ nhân thân, lai lịch) trực tiếp giao ma túy cho Trần Văn D, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã xác minh tại địa điểm xảy ra sự việc mua bán, nhƣng không ghi nhận đƣợc camera ghi lại hình ảnh vụ việc, không có thông tin nhân thân, lai lịch đối tƣợng, nên sẽ tiến hành xác minh, xử lý sau.

Trong quá trình điều tra bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình nhƣ Cáo trạng đã truy tố đồng thời bị cáo xin đƣợc giảm nhẹ hình phạt.

NH N Đ NH CỦA T A ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, lời khai của ngƣời tham gia tố tụng, biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, có đủ cơ sở xác định: vào khoảng 17 giờ 00 phút ngày 26/06/2024 , trƣớc quán cà phê “Cung Đàn” thuộc đƣờng T, khu phố T, phƣờng D, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng, lực lƣợng Công an phƣờng D, thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng bắt quả tang Trần Văn D có hành vi cất dấu 0,3924 gam ma túy, loại Methamphetamine để nhằm mục đích sử dụng. Hành vi cất dấu ma túy để sử dụng của Trần Văn D đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 .

Cáo trạng số: 401/CT-VKS-DA ngày 16 tháng 12 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng truy tố bị cáo Trần Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật; bị cáo hoàn toàn đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

[3] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng đã xâm phạm vào sự quản lý độc quyền của Nhà nƣớc về chất ma tuý, gây tác hại cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phƣơng. Bị cáo là ngƣời đã thành niên nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù tƣơng xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến vai trò của bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn, hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ đƣợc quy định điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử sẽ áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với ngƣời phạm tội.

[6] Về nhân thân: Bị cáo là ngƣời nghiện ma túy. Chƣa có tiền án, tiền sự.

[7] Về hình phạt:

[7.1] Hình phạt chính: Xét bị cáo phạm tội nghiêm trọng, ngƣời nghiện ma túy nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức giáo dục bị cáo thành ngƣời có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

[7.2] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 thì ngƣời phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến dƣới 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu 01 phần hoặc toàn bộ tài sản. Hội đồng xét xử xét thấy, mức hình phạt tù đối với bị cáo cũng đủ sức giáo dục, cải tạo nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[8] Xử lý vật chứng:

8.1] Xét Đối với 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, đây là phƣơng tiện do Trần Văn D sử dụng để liên lạc mua ma túy, cần tịch thu sung công quỹ Nhà nƣớc. Đối với sim số 0523091272 đã sử dụng để liên lạc mua ma túy và không còn giá trị, cần tịch thu tiêu hủy;

[8.2] Xét Đối với 01 (Một) bì thƣ đƣợc niêm phong số: 3103/PC09 bên trong chứa 01 (một) túi nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng, là ma túy loại, Methamphetamine, có khối lƣợng: 0,3751 gam, mẫu vật còn lại sau giám định, cần tịch thu tiêu hủy;

[8.3] Xét Đối với 01 (Một) khẩu trang màu trắng xám đã qua sử dụng, không còn giá trị cần tịch thu tiêu hủy.

[9] Đối với ngƣời nam giới (Chƣa rõ nhân thân, lai lịch) mà Trần Văn D đã liên lạc qua số điện thoại 0914197789 để mua ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã tiến hành tra cứu số điện thoại 091419779, xác định chủ số thuê bao trên là của ông Vũ Phƣơng N (sinh năm 1982; thƣờng trú: xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh). Qua xác minh, lấy lời khai của N xác định N có sử dụng số điện thoại 0914197789 nhƣng trong thời gian sử dụng điện thoại cho ngƣời bạn quen biết ngoài xã hội mƣợn điện thoại chơi game, không rõ nhân thân lai lịch, Nam không nhớ ngày 26/6/2024 đã đi đâu, làm gì. Nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D sẽ tiếp tục xác minh, xử lý sau là phù hợp quy định pháp luật.

[10] Đối với ngƣời phụ nữ (Chƣa rõ nhân thân, lai lịch) trực tiếp giao ma túy cho Trần Văn D, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D đã xác minh tại địa điểm xảy ra sự việc mua bán, nhƣng không ghi nhận đƣợc camera ghi lại hình ảnh vụ việc, không có thông tin nhân thân, lai lịch đối tƣợng, nên sẽ tiến hành xác minh, xử lý sau là phù hợp quy định của pháp luật.

[11] Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thành phố D, tỉnh Bình Dƣơng đƣa ra tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân, mức hình phạt tù đối với bị cáo và xử lý vật chứng phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử do vậy đƣợc chấp nhận.

[12] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT Đ NH:

1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Trần Văn D 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/6/2024.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nƣớc: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105;

- Tịch thu tiêu hủy: 01 sim số 0523091272; 01 (Một) bì thƣ đƣợc niêm phong số: 3103/PC09 bên trong chứa 01 (một) túi nylon miệng kéo dính chứa tinh thể màu trắng, là ma túy loại, Methamphetamine, có khối lƣợng: 0,3751 gam, mẫu vật còn lại sau giám định; 01 (Một) khẩu trang màu trắng xám đã qua sử dụng.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/12/2024 giữa Công an thành phố D với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An).

3. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

4. Bị cáo Trần Văn D phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có mặt đƣợc quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ