vanban.org

Bản án 154/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La Tuyên án 16/05/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt:

Xử phạt bị cáo Quàng Văn H 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/01/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Quàng Văn Hùng - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự Tịch thu tiêu hủy; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự tuyên bố
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÔNG MÃ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH SƠN LA
Bản án số: 154/2024/HS - ST
Ngày 16 - 5 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Nhung

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Quàng Văn Tiện.

2. Ông Trần Thành Vân.

- Thư ký phiên toà: Bà Lý Thị Thùy Linh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Bà Lò Thị Thanh - Kiểm sát viên

Ngày 16 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Mã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 153/2024/HSST ngày 22 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 146/2024/QĐXXST - HS ngày 04 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Quàng Văn H - Sinh năm 1987; Nơi cư trú: Bản M, xã K, huyện Z, tỉnh Sơn La; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ đoàn thể, đảng phái: Không; Con ông Quàng Văn G (đã chết) và bà Vì Thị S; Bị cáo có vợ là Đèo Thị L và 03 con (con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2011); Tiền án; tiền sự: Không.

Nhân thân: Năm 2013 bị Tòa án nhân dân huyện Z, xử phạt 07 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Bị cáo bị tạm giữ, giam từ ngày 22/01/2024 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Đèo Thị L, sinh năm 1987. Nơi cư trú: Bản M, xã K, huyện Z, tỉnh Sơn La. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 15 giờ 15 phút, ngày 22/01/2024 Tổ công tác Công an xã K, huyện Z làm nhiệm vụ tại bản H1, xã K, huyện Z phát hiện Quàng Văn H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ tại lòng bàn tay trái của H 01 gói nilon màu trắng (H khai nhận là Heroine). Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Quàng Văn H, thu giữ và niêm phong vật chứng. Ngoài ra còn thu giữ 01 xe mô tô loại Win 100, nhãn hiệu Loncin, có BKS 26K1 - 0132.

Ngày 23/01/2024 tại cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Mã, Hội đồng bóc mở niêm phong đã tiến hành cân tịnh, xác định khối lượng và trích mẫu giám định, kết quả: số bột màu trắng có khối lượng là 0,104 gam đã trích toàn bộ 0,104 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu H.

Tại bản kết luận giám định số 426/KL ngày 26/01/2024 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận: “Mẫu ký hiệu H gửi giám định là ma tuý, Loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,104 gam. Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 0,104 gam, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất”.

Quá trình điều tra bị cáo khai nhận: Khoảng 13 giờ, ngày 22/01/2024 H điều khiển xe mô tô BKS 26K1 - 0132 đem theo số tiền 50.000đ đi từ nhà đến bản H1, xã K, huyện Z tìm mua ma tuý sử dụng. Khi lên đến bản H1, H dừng xe rồi đi bộ vào trong bản vào nhà một người phụ nữ dân tộc Mông, H nói chuyện và hỏi mua ma túy của người này. H đưa 50.000đ, người phụ nữ nhận tiền rồi đi vào trong nhà sau đó quay lại đưa cho H 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa Heroine. H nhận gói ma túy cầm ở tay rồi qua lại chỗ để xe. Khi H chuẩn bị điều khiển xe đi về thì tổ công tác Công an xã K, huyện Z đến làm nhiệm vụ đã phát hiện bắt quả tang, niêm phong vật chứng như đã nêu.

Do có hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số 97/CT-VKSSM ngày 22 tháng 4 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đã truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Sông Mã để xét xử Quàng Văn H về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt Quàng Văn H từ 01 năm 06 tháng - 02 năm tù, không áp dụng hình phạt bổ sung. Xử lý vật chứng: số ma túy đã sử dụng làm mẫu gửi giám định hết, còn lại tịch thu tiêu hủy: 01 mảnh nilon màu trắng và 01 vỏ phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở; trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chiếc xe mô tô. Miễn án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày: Chị là vợ của bị cáo H, chiếc xe có BKS 26K1 - 0132 thu giữ trong vụ án là tài sản của gia đình mua lại của một bán đồng nát không rõ danh tính để làm phương tiện đi nương, khi bị cáo sử dụng xe vào việc đi mua ma túy thì chị không hay biết. Chị đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại chiếc xe cho gia đình chị.

Tại phiên tòa bị cáo nhất trí với nội dung bản cáo trạng và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến tranh luận gì, nhất trí với ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và khi được nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, xin được miễn án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Sông Mã, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ H tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định của cơ H tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về các chứng cứ xác định tội danh: Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau:

- Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập vào hồi 15 giờ 15 phút, ngày 22/01/2024 đối với Quàng Văn H cùng vật chứng bị thu giữ là 01 gói nilon bên trong chứa chất bột liên kết màu trắng (H khai nhận là Heroine); Kết luận giám định số 426 ngày 26/01/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận là ma túy: “… Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 0,104 gam, loại Heroine”.

- Lời khai nhận tội của bị cáo về thời gian địa điểm, diễn biến của hành vi phạm tội tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo không có thay đổi, bổ sung gì về lời khai làm thay đổi nội dung vụ án và khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện.

Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 22/01/2024 khi bị cáo đang có hành vi tàng trữ 0,104 gam loại Heroine mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ. Hành vi bị cáo thực hiện đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, có mức hình phạt từ “01 năm đến 05 năm tù”.

Như vậy, nội dung truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật

Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Tại phiên toà và tại cơ quan điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng có nhân thân xấu, đã từng bị kết án phạt 07 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cảnh tỉnh giáo dục bản thân, cho thấy tính khó giáo dục, cải tạo và ý thức coi thường pháp luật của bị cáo.

Về tính chất của vụ án, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, bị cáo nhận thức được việc Tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện tội phạm, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương, là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác, gây bức xúc trong xã hội.

Vì vậy, cần có một mức án tương xứng với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội trên cơ sở cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và khối lượng ma túy bị cáo thực hiện hành vi phạm tội để đưa ra một mức án phù hợp nhất, nhằm giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và cũng đảm bảo biện pháp răn đe, phòng ngừa chung, góp phần thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý tại địa phương.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản gì có giá trị nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án:

Số ma túy đã sử dụng làm mẫu gửi giám định hết, còn lại 01 mảnh nilon, 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu là những vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 xe mô tô có BKS 26K1- 0132 xác định là tài sản chung hợp pháp của vợ chồng bị cáo, khi bị cáo sử dụng xe đi mua ma túy vợ bị cáo không biết và đề nghị xem xét trả lại xe là có căn cứ chấp nhận.

Về các vấn đề khác có liên quan trong vụ án:

Tại bản án số 19/2013/HSST ngày 23/01/2013 của TAND huyện Sông Mã thì mẹ của bị cáo tên là Vì Thị Dâu và vợ tên là Đèo Thị Tiển. Cơ quan cảnh sát điều tra đã xác minh làm rõ tên gọi là Vì Thị Dâu và Đèo Thị Tiển là tên thường gọi ở nhà của mẹ và vợ bị cáo. Theo tra cứu dữ liệu quốc gia về dân cư đến nay thì hiện tại bà Vì Thị Dâu có tên là Vì Thị Sương và Đèo Thị Tiển có tên là Đèo Thị L (không có tên gọi khác). Do vậy, xác định được bị cáo Quàng Văn H trong bản án số 19/2013/HSST ngày 23/01/2013 của TAND huyện Sông Mã và bị cáo Quàng Văn H trong vụ án này là cùng một người.

Về người phụ nữ bị cáo khai là người đã bán ma túy bị cáo khai không biết rõ tên, địa chỉ cụ thể nên CQCSĐT không mở rộng điều tra vụ án là có căn cứ chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống tại xã có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn và đã xin miễn án phí nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định chung.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Quàng Văn H phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Quàng Văn H 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/01/2024.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự

Tịch thu tiêu hủy: 01 mảnh nilon màu trắng và 01 phong bì thư niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở. Tất cả được đựng trong 01 phong bì đã dán kín, niêm phong đúng quy định, mặt sau phong bì trên giấy niêm phong có mã số 0000265

Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Đèo Thị L: 01 xe mô tô nhãn hiệu Win 100 Loncin có biển kiểm soát 26K1 - 0132

Theo Quyết định chuyển vật chứng số 97/QĐ – VKS ngày 22/4/2024 của VKSND huyện Sông Mã và theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 24/4/2024 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Mã.

3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 16/5/2024).

Cỡ chữ