- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Minh A - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Minh A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 154/2023/HS-ST Ngày 24 – 7 – 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thanh Ngọc.
- Các hội thẩm nhân dân: Ông Đào Đức Phú và ông Nguyễn Trung Giang.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Vân Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Chiêm - Kiểm sát viên.
Ngày 24/7/2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố B xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 155/2023/HSST ngày 26 tháng 6 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 161/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:
Trần Minh A, sinh năm 1994.
HKTT: Khu Tự Thôn, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Anh T, sinh năm 1974 và bà Trần Thị L, sinh năm 1975; Vợ: Vũ Thị H, sinh năm 1995; Con: 02 con lớn sinh năm 2017, nhỏ sinh năm 2023.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/4/2023 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B, có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên tối ngày 10/4/2023, Trần Minh A, sinh năm 1994; HKTT: Khu Tự Thôn, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh bắt xe ôm đi từ nhà ở khu Tự Thôn, phường N, TP Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh đến khu vực thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh với mục đích mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Tại đây Minh A đã gặp một người đàn ông không quen biết và hỏi mua 500.000 đồng tiền ma túy tổng hợp dạng Ketamine. Người đàn ông đồng ý, Minh A đưa cho người đàn ông 500.000 đồng và người đàn ông đưa lại cho Minh A một túi nilong màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng. Minh A biết là ma túy nên cầm và cất vào ví giả da màu nâu rồi cất chiếc ví vào túi quần phía trước bên trái đang mặc đi về nhà. Đến trưa ngày 11/04/2023, Minh A mang theo ma túy đi tìm nơi để sử dụng, khi đang đi bộ ở đường Lê Thái Tổ, phường Võ Cường, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh thì bị đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố B tiến hành kiểm tra, thu giữ vật chứng gồm:
* Vật chứng thu giữ của Trần Minh A:
- 01 chiếc ví giả da màu nâu tại túi quần phía trước bên trái Minh A đang mặc bên trong có 01 túi nilong màu trắng chứa chất bột màu trắng.
- 01 thẻ Căn cước công dân số 027094005952 mang tên Trần Minh A.
Tại bản kết luận giám định số 868/KL-KTHS ngày 13/4/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 túi nilong màu trắng gửi giám định có khối lượng 1,2923 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Ketamine.
Quá trình điều tra, truy tố bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Với nội dung trên, Cáo trạng số 115/CT-VKSTPBN ngày 26 tháng 6 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố B truy tố Trần Minh A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự.
Quá trình xét hỏi tại phiên toà, bị cáo Trần Minh A đã khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B giữ quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên Cáo trạng truy tố Trần Minh A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng: Điểm g Khoản 1, Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Trần Minh A từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì thư có dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Ninh; 01 chiếc ví giả da màu nâu đã qua sử dụng.
Trả lại cho bị cáo 01 thẻ căn cước công dân số 027094005952 mang tên Trần Minh A.
- Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí theo quy định.
Ý kiến của bị cáo: Bị cáo nhất trí với phần luận tội và không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng: Đã thực hiện theo quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng. Vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung vụ án: Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với không gian, phù hợp với thời gian, địa điểm, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ thấy đã có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 13 giờ 20 phút, ngày 11/4/2023 tại đường Lê Thái Tổ, phường Võ Cường, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh Trần Minh A có hành vi tàng trữ trái phép 1,2923 gam chất ma túy loại Ketamine để sử dụng cho bản thân. Theo Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ thì Ketamine là chất ma túy. Cáo trạng truy tố số 115/CT-VKSNDTPBN ngày 26/6/2023 đã truy tố bị cáo về “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm g khoản 1 Điều 249 BLHS là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi ma tuý huỷ hoại sức khoẻ con người và là nguyên nhân phát sinh tội phạm, tệ nạn xã hội khác. Hành vi của bị cáo còn xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội.
Xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS, nhân thân của bị cáo:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo HĐXX xét thấy bị cáo nhận thức được tác hại của ma tuý nhưng vì nhu cầu sử dụng nên bị cáo đã tàng trữ một lượng chất ma túy để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, coi thường pháp luật nên để đảm bảo tính nghiêm minh của luật pháp cần áp dụng hình phạt tù tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình nhằm thực hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có thu nhập, tài sản tiêng nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Số mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì thư có dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu huỷ.
01 chiếc ví giả da màu nâu đã qua sử dụng, bị cáo không đề nghị nhận lại nên cần tịch thu tiêu hủy.
01 thẻ căn cước công dân số 027094005952 mang tên Trần Minh A không phải là công cụ dùng vào việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
Đối với người đàn ông đã bán ma tuý cho Minh A nhưng Minh A không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể ở đâu. Do vậy cơ quan điều tra Công an thành phố B chưa làm rõ được, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm g khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 329; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016.
Tuyên bố bị cáo Trần Minh A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Trần Minh A 15 (Mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 11/4/2023. Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ mẫu vật còn lại sau giám định theo Kết luận giám định số 868/KL-KTHS ngày 13/4/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự
- Công an tỉnh Bắc Ninh; 01 chiếc ví giả da màu nâu đã qua sử dụng.
Trả lại cho bị cáo 01 thẻ căn cước công dân số 027094005952 mang tên Trần Minh A (Theo biên bản giao nhận tài sản, vật chứng ngày 20/6/2023 giữa Công an thành phố B với Chi cục thi hành án dân sự thành phố B).
- Về án phí: Bị cáo Trần Minh A phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - VKSND TP Bắc Ninh; - VKSND tỉnh Bắc Ninh; - TAND tỉnh Bắc Ninh; - Công an Tp. Bắc Ninh; - THA dân sự Tp. Bắc Ninh; - Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh; - Nhà tạm giữ Công an thành phố B; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ, văn phòng. Hội thẩm nhân dân Đào Đức Phú Nguyễn Trung Giang | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đỗ Thanh Ngọc HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Chủ tọa phiên tòa Đỗ Thanh Ngọc |