vanban.org

Bản án 154/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La Tuyên án 14/08/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt:

Xử phạt bị cáo Hờ Súa L 11 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/3/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hờ Súa Lậu - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự Tịch thu tiêu hủy; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÔNG MÃ
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 154/2023/HS - ST
Ngày 14 - 8 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Nhung

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Thành Vân.

2. Ông Quàng Văn Tiện.

- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Quang Hùng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Ông Sộng Nỏ Ly - Kiểm sát viên

Ngày 14 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sông Mã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 158/2023/HSST ngày 21 tháng 7 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 150/2023/QĐXXST - HS ngày 02 tháng 8 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hờ Súa L - Sinh năm 1964; Nơi cư trú: Bản N, xã T, huyện S, tỉnh Sơn La; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Chức vụ đoàn thể, đảng phái: Không; Con ông Hờ Chư C (đã chết) và bà Giàng Thị S (đã chết); Bị cáo có vợ là Sùng Thị S2 và có 08 con (con lớn nhất sinh năm 1987, con nhỏ nhất sinh năm 2004); Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, giam từ ngày 07/3/2023 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

- Người phiên dịch: Lầu Bả S3. Địa chỉ: Bản K, xã H, huyện S, tỉnh Sơn La. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 17 giờ 00 phút ngày 07/3/2023 tổ công tác Công an xã T phối hợp với Công an huyện S làm nhiệm vụ tại bản N, xã T, huyện S phát hiện Hờ Súa L đang có hành vi Mua bán trái phép chất ma túy, thu giữ trong túi quần phía trước bên phải của L có 01 gói nilon màu trắng chứa cục bột liên kết màu trắng và 01 gói nilon màu hồng chứa 08 viên nén màu hồng (L khai nhận là Hồng phiến và Heroine). Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng.

Ngày 08/3/2023 tại Cơ quan CSĐT Công an huyện Sông Mã, Hội đồng bóc mở niêm phong đã tiến hành cân tịnh, xác định khối lượng và trích mẫu giám định, kết quả: Số bột liên kết màu trắng có khối lượng là 18,79 gam đã trích 0,14 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu S1, vật chứng còn lại là 18,65 gam ký hiệu L1. 08 viên nén màu hồng có khối lượng là 0,82 gam đã trích 01 viên có khối lượng là 0,10 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu S2, vật chứng còn lại là 07 viên với khối lượng là 0,72 gam ký hiệu L2.

Tại bản kết luận giám định số 548/KL ngày 09/3/2023 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận: “Mẫu ký hiệu S1 gửi giám định là ma tuý; Loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,14 gam; Mẫu ký hiệu S2 gửi giám định là ma tuý; loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,10 gam. Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 18,79 gam, loại Heroine (Heroin), có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất; 0,82 gam; loại Methamphetamine”.

Quá trình điều tra bị cáo khai nhận: Khoảng 12 ngày 16/02/2023 khi L đang làm nương sắn tại bản N, xã T, huyện Sông Mã thì có một người đàn ông dân tộc Thái không quen biết đi đến nói chuyện với L, qua đó L biết người này sử dụng ma tuý nên đã hỏi mua ma tuý thì người này đồng ý. L đưa cho người đàn ông này số tiền 5.000.000 đồng, người đàn ông nhận tiền đưa cho L một gói nilon màu trắng chứa Heroine và 01 gói nilon màu hồng chứa 20 viên Hồng phiến. Mua được ma tuý, mỗi ngày L đã trích ra một ít Heroine và 10 viên Hồng phiến để sử dụng hết. Ngày 03/3/2023 L bán 02 viên Hồng phiến với số tiền 40.000 đồng cho người đàn ông dân tộc Thái không rõ danh tính tại nhà của L, số tiền bán ma tuý L đã tiêu xài cá nhân hết. Chiều ngày 07/3/2023 L cho Heroine và gói Hồng phiến vào túi quần và đi bộ từ nhà đi ra nương, khi đang đi thì gặp tổ công tác Công an xã T và Công an huyện Sông Mã phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Do có hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số 111/CT-VKSSM ngày 20 tháng 7 năm 2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đã truy tố ra trước Toà án nhân dân huyện Sông Mã để xét xử Hờ Súa L về tội Mua bán trái phép chất ma tuý theo điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý. Căn cứ điểm p khoản 2 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hờ Súa L từ 11 năm - 12 năm tù, không áp dụng hình phạt bổ sung. Xử lý vật chứng: tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau khi trừ đi mẫu gửi giám định cùng 02 mảnh nilon và 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu; Truy thu sung Ngân sách Nhà nước 40.000 đồng. Miễn án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo cho bị cáo.

Tại phiên tòa bị cáo nhất trí với nội dung bản cáo trạng và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và khi được nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt vì tuổi đã cao và xin được miễn án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Sông Mã, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về các chứng cứ xác định tội danh: Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau

- Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập vào hồi 17 giờ 15 phút, ngày 07/3/2023 đối với Hờ Súa L cùng vật chứng bị thu giữ là 01 gói nilon màu trắng chứa cục bột liên kết màu trắng và 01 gói nilon màu hồng chứa 08 viên nén màu hồng; Kết luận giám định số 548/KL ngày 09/3/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận là ma túy: “… Tổng khối lượng ma tuý thu giữ là 18,79 gam, loại Heroine (Heroin)…; 0,82 gam, loại Methamphetamine”.

- Lời khai bị cáo về việc ngày 16/02/2023 đã mua được ma túy của một người không quen biết với số tiền là 5.000.000 đồng, hàng ngày đã trích dần số ma túy này ra để sử dụng và ngày 03/3/2023 đã bán trót lọt cho một người không quen biết được hưởng lợi 40.000 đồng. Đến ngày 07/3/2023 khi L đang mang theo số ma túy còn lại đi ra lán nương thì bị phát hiện bắt quả tang.

- Lời khai nhận tội của bị cáo về thời gian địa điểm, diễn biến của hành vi phạm tội tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo không có thay đổi, bổ sung gì về lời khai làm thay đổi nội dung vụ án. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc đã thực hiện.

Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã truy tố bị cáo về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự là đúng quy định của pháp luật.

Từ những căn cứ nêu trên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 07/3/2023 khi bị cáo đang có hành vi tàng trữ 0,82 gam ma túy loại Methamphetamine và 18,79 gam ma túy loại Heroine (tổng khối lượng hai chất là 19,61 gam) mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ. Hành vi bị cáo thực hiện đã phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm p khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự, có mức hình phạt từ “07 năm đến 15 năm tù”.

Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Tại phiên toà và tại cơ quan điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tính chất của vụ án, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, bị cáo nhận thức được việc tàng trữ, mua bán chất ma tuý là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện tội phạm, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương, là mầm mống phát sinh các loại tội phạm khác, gây bức xúc trong xã hội.

Vì vậy, cần có một mức án tương xứng với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội trên cơ sở cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và khối lượng ma túy bị cáo thực hiện hành vi phạm tội để đưa ra một mức án phù hợp nhất, nhằm giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và cũng đảm bảo biện pháp răn đe, phòng ngừa chung, góp phần thực hiện nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý tại địa phương.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản gì có giá trị nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án:

Số ma túy thu giữ còn lại sau khi trừ đi mẫu gửi giám định là vật nhà nước cấm tàng trữ lưu hành, 02 mảnh nilon và 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu là những vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Về các vấn đề khác có liên quan trong vụ án:

Về người đàn ông bị cáo khai là người đã bán ma túy vào ngày 16/02/2023 và người đàn ông đã mua 02 viên hồng phiến của bị cáo vào ngày 03/3/2023, bị cáo khai không biết rõ tên, địa chỉ cụ thể nên CQCSĐT không mở rộng điều tra vụ án là có căn cứ chấp nhận.

Đối với số tiền 40.000đ bị cáo được hưởng khi bán 02 viên hồng phiến ngày 03/3/2023 là tiền do phạm tội mà có, bị cáo đã chi tiêu hết nên cần truy thu sung ngân sách nhà nước.

Về án phí: Bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số sống tại xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đề nghị được miễn án phí nên được miễn án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về điều luật áp dụng, tội danh và hình phạt:

Căn cứ điểm p khoản 2 Điều 251; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Hờ Súa L phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Hờ Súa L 11 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/3/2023.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

2. Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự

Tịch thu tiêu hủy: 18,56 gam Heroine được đựng trong 01 túi nilon, 0,72 gam Methamphetamine được đựng trong 01 túi nilon, 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu, 02 mảnh nilon. Tất cả được đựng trong 01 phong bì đã dán kín, niêm phong đúng quy định, mặt sau phong bì trên giấy niêm phong có mã số 027594.

Theo Quyết định chuyển vật chứng số 87/QĐ – VKS ngày 10/7/2023 của VKSND huyện Sông Mã và theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 11/7/2023 giữa Công an và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Mã.

Truy thu sung ngân sách Nhà nước đối với bị cáo số tiền là 40.000đ (Bốn mươi nghìn đồng).

3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 14/8/2023).

Cỡ chữ