- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Võ Thu Trang - Vu Vincen"
- Căn cứ chính? Điều 122 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 154/2023/HNGĐ-ST Ngày: 16/02/2023 V/v Ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Nguyễn Thị Thanh Mai
2/ Ông Huỳnh Phẩm Dũng Phát
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Võ Thị Thoa – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 16 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 533/2022/TLST-HNGĐ ngày 27/10/2022 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 451/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 02 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Võ Thu Tr, sinh năm 1985
Địa chỉ: đường 24 B, quận B, Thành phố H.
Người bảo vệ quyền lợi, ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Đàm Trung Thành, sinh năm 1990 – thuộc Công ty luật TNHH Tâm Quang – Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Ông Vu Vincent, sinh năm 1974
Địa chỉ: 3619 Knoxie Street San Diego, CA 92105, USA.
(Các đương sự vắng mặt, có đơn yêu cầu vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nguyên đơn bà Võ Thu Tr trình bày:
Bà và ông Vu Vincent kết hôn vào năm 2012, theo giấy chứng nhận kết hôn do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 05/01/2012 vào sổ đăng ký kết hôn số 80 quyển số 01 ngày 06/01/2012.
Sau khi kết hôn, do có công việc và chỗ ở riêng tại Hoa Kỳ nên ông Vu Vincent mỗi năm chỉ ở lại Việt Nam khoảng 06 tuần, trong thời gian không chung sống cùng nhau hai bên thường xuyên liên lạc với nhau qua điện thoại, do sống cách xa nhau và sự khác biệt về thời gian và múi giờ gữa hai nước nên việc liên lạc khó khăn dẫn đến thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống và do hai vợ chồng không quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Đến năm 2020 ông Vu Vincent cắt liên lạc với bà và bà cũng không thể nói chuyện được với ông Vu Vincent. Bà và ông Vu Vincent đã sống ly thân trong một thời gian dài, không ai còn quan tâm đến đời sống của ai, nay bà nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, điều kiện sống chung không có việc hàn gắn là không thể thực hiện được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Vu Vincent để có điều kiện ổn định cuộc sống. Về con chung: Bà và ông Vu Vincent không có con chung Về tài sản chung, nợ chung: Bà và ông Vu Vincent không có tài sản chung và nợ chung. Bị đơn ông Vu Vincent trình bày tại bản tự khai ngày 09/10/2022 được Tổng Lãnh sự quán Việt Nam tại San Francisco, Hoa Kỳ chứng nhận hợp pháp hóa lãnh sự ngày 09/12/2022 số chứng thực 350-12 HPHLS có nội dung như sau: Ông và bà Võ Thu Tr kết hôn vào năm 2012, theo giấy chứng nhận kết hôn do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 05/01/2012 vào sổ đăng ký kết hôn số 80 quyển số 01 ngày 06/01/2012. Về quá trình chung sống và mâu thuẫn ông thống nhất như trình bày của bà Võ Thu Tr. Ông được biết bà Võ Thu Tr đang yêu cầu ly hôn với ông tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Đối với yêu cầu của bà Võ Thu Tr ông có ý kiến như sau: Về quan hệ hôn nhân: Ông đồng ý ly hôn với bà Võ Thu Tr. Về con chung: Không có Về tài sản chung, nợ chung: Không có Tại phiên tòa sơ thẩm : Nguyên đơn bà Võ Thu Tr, bị đơn ông Vu Vincent đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án : Nguyên đơn bà Võ Thu Tr đang cư trú tại Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam có đơn xin ly hôn với bị đơn ông Vu Vincent đang cư trú tại Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37 ; Điều 38 ; Điều 40; Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 123 luật hôn nhân và gia đình năm 2014. [2] Về tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ các bên tham gia phiên tòa, nguyên đơn bà Võ Thu Tr, bị đơn ông Vu Vincent đều có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ quy định tại Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.
Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ nên vụ án không thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Nguyên đơn bà Võ Thu Tr bị đơn ông Vu Vincent có đăng ký kết hôn vào năm 2012, theo giấy chứng nhận kết hôn do Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 05/01/2012 vào sổ đăng ký kết hôn số 80 quyển số 01 ngày 06/01/2012, nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Theo bà Võ Thu Tr và ông Vu Vincent trình bày: Sau khi kết hôn do có công việc và chỗ ở riêng tại Hoa Kỳ nên ông Vu Vincent mỗi năm chỉ ở lại Việt Nam khoảng 06 tuần, trong thời gian không chung sống cùng nhau hai bên thường xuyên liên lạc với nhau qua điện thoại, do sống cách xa nhau và sự khác biệt về thời gian và múi giờ gữa hai nước nên việc liên lạc khó khăn dẫn đến thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống và do hai vợ chồng không quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Hai bên đã sống ly thân trong một thời gian dài, không ai còn quan tâm đến đời sống của ai dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn, việc hàn gắn là không thể thực hiện được.
Bà Võ Thu Tr nhận thấy không còn tình cảm với ông Vu Vincent, hôn nhân không hạnh phúc nên yêu cầu được ly hôn để ổn định cuộc sống. Về phía ông Vu Vincent có bản tự khai ngày 09/10/2022 được Tổng Lãnh sự quán Việt Nam tại San Francisco, Hoa Kỳ chứng nhận hợp pháp hóa lãnh sự ngày 09/12/2022 số chứng thực 350-12 HPHLS đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà Võ Thu Tr.
Xét thấy, vợ chồng có quyền, nghĩa vụ yêu thương, tôn trọng và cùng có trách nhiệm quan tâm, chăm sóc giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, xây dựng gia đình hạnh phúc, đây cũng là mục đích của hôn nhân. Do điều kiện khách quan nên thực tế vợ chồng bà Võ Thu Tr, ông Vu Vincent đã không còn chung sống dẫn đến mâu thuẫn, bất đồng kéo dài, tình cảm phai nhạt, cả hai đã cố gắng hàn gắn nhưng không có kết quả, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Võ Thu Tr xin ly hôn và ông Vu Vincent đồng ý thuận tình ly hôn là có cơ sở, phù hợp quy định của pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Bà Tr và ông Vu Vincent xác định không có nên không xét.
Về tài sản chung và nợ chung : Bà Tr và ông Vu Vincent xác định không có nên không xét.
Về án phí:
Án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn: 300.000 đồng nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bà Võ Thu Tr và ông Vu Vincent được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; Điều 40; Điều 147; Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 273; Điều 469; khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ khoản 1 Điều 56 ; Điều 57; Điều 122; Điều 123; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ Nghị quyết 326/2016.UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Căn cứ luật Thi hành án dân sự 2008 đã sửa đổi, bổ sung năm 2014. Tuyên xử : Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thu Tr. 1/ Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thu Tr và ông Vu Vincent thuận tình ly hôn. 2/ Về con chung : Không có 3/ Về tài sản chung: Không có 4/ Về nợ chung: Không có. 5/ Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn: 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng bà Võ Thu Tr phải chịu nhưng được khấu trừ vào số tiền bà Võ Thu Tr đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số AA/2021/0003210 ngày 17/10/2022 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Võ Thu Tr đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm. 6/ Bà Võ Thu Tr được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ. Ông Vu Vincent được quyền kháng cáo trong hạn 01 (một) tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND Tối cao; - TAND Cấp cao tại TP.HCM; - VKSND tối cao; - VKSND TP.HCM; - VKSND Cấp cao tại TP.HCM; - Cục Thi hành án dân sự TP.HCM; - UBND nơi đăng ký kết hôn; - Đương sự; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Thu Phương |