vanban.org

Bản án 154/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 29/11/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Khoản 1 Điều 244; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trương T Đ phạm tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trương Tuấn Đ - phạm tội vi phạm quy định về quản lý, bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm (điều 244 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1 Điều 244; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật
  • Căn cứ chính? Điều 244 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHỔ YÊN
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 154/2022/HS-ST
Ngày: 29 - 11- 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Âu Văn Hồ

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hà Văn Tôn

2. Bà Nguyễn Thị Thanh

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: ông Trần Anh T - Thư ký Toà án

nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên tham gia phiên

toà: Ông Đào Việt Yên- Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2022 tại Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh

Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 141/2022/HSST, ngày 21/10/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 160/2022/QĐXXST-HS ngày 15/11/2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trương T Đ; Tên gọi khác: Không.

Sinh năm: 1989 tại Cẩm Thủy, Thanh Hóa; Giới tính: Nam.

Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Tổ dân phố Hòa Bình, thị trấn Phong

Sơn, huyện Cẩm Thủy, tỉnh Thanh Hóa.

Nơi ở hiện tại: Số nhà 110, đường Tân Nam, phường Nam Ngạn, thành phố

Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 11/12.

Chức vụ Đảng, chính Q, đoàn thể: Không.

Bố: Trương Văn L, sinh năm 1955; Mẹ: Ngô Thị C, sinh năm 1956; Gia đình có 04 chị em, bị cáo là con út; Vợ thứ nhất: Hà Thị H, sinh năm 1996, (đã ly hôn), vợ chồng có 01 con chung, sinh năm 2018; Vợ thứ hai: Nguyễn Thị Thanh M, sinh năm 1991, vợ chồng có 01 con chung, sinh năm 2021.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 16/7/2007 có hành vi “Giết người” bị Tòa án nhân dân tối

cao xử phạt 09 năm tù tại Bản án số 181/2008/HSPT ngày 21/3/2008. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/02/2016 và chấp hành xong bản án ngày 24/4/2020.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/4/2022, đến ngày 07/5/2022 chuyển tạm giam

cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

(Có mặt tại phiên tòa)

* Người có Q và nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Nguyễn Trần Như Q, sinh năm 1994 (Vắng mặt tại phiên tòa)

2. Anh Nguyễn Đình P, sinh năm 1991(Vắng mặt tại phiên tòa)

Đều địa chỉ: thôn Cổ Nhổi, xã Hướng P, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng

Trị.

3. Anh Hoàng Văn Q, sinh năm 1994(Vắ g mặt tại phiên tòa)

Địa chỉ: xóm 3 Trang Lợi, xã Lê Lợi, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.

4. Anh Nguyễn Công D, sinh năm 1985 (Vắng mặt tại phiên tòa)

Địa chỉ: thôn Phú Cường, xã Nhuế Dương, huyện Khoái Chấu, tỉnh Hưng Yên.

5. Ông Lê Hữu D, sinh năm 1970 (Vắng mặt tại phiên tòa)

Địa chỉ: P517D1 N3, Chung cư Mai Xuân Dương, thành phố Thanh Hóa,

tỉnh Thanh Hóa.

6. Anh Vũ Thế H, sinh năm 1988 (Có mặt tại phiên tòa)

Địa chỉ: Số 100 Đinh Công Tráng, phường Ba Đình, thành phố Thanh Hóa,

tỉnh Thanh Hóa.

7. Anh Bùi Văn T, sinh năm 1980 (Có mặt tại phiên tòa)

Địa chỉ: Số12/284 Mật Sơn, phường Đông Vệ, thành phố Thanh Hóa, tỉnh

Thanh Hóa.

8. Anh Ân Văn Q, sinh năm 2000 (Vắng mặt tại phiên tòa)

Địa chỉ: Tổ 10, phường Quang Vinh, thành phố Thái Nguyên, Thái Nguyên

*Người chứng kiến:

- Phạm Minh H, sinh năm 1971 (Vắng mặt tại phiên tòa)

Địa chỉ: Tổ dân phố An Bình, phường Đồng Tiến, thành phố Phổ Yên, tỉnh

Thái Nguyên.

(Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Thông qua mạng xã hội Facebook, Trương T Đ đăng bán lợn rừng trên

trang Facebook cá nhân có tên tài khoản là “Chuyên Đồ Rừng”. Ngày 24/4/2022, tài khoản Facebook có tên “Duy Ngọc” ở Thái Nguyên (Đ không biết họ tên, địa chỉ cụ thể) nhắn tin hỏi Đ có Sơn dương không để người đó mua, Đ trả lời để xem có không. Sau đó Đ liên lạc với tài khoản Facebook có tên “Đình P” là người bán lợn rừng cho Đ (Đ không biết họ tên, địa chỉ cụ thể) để hỏi thì người này nói có Sơn dương để bán. Đ hỏi mua 02 (Hai) cá thể Sơn dương thì người này báo giá là 01 (Một) cá thể đông lạnh nặng 32 kilogam giá 160.000 đồng/kilogam, 01 (Một) cá thể mới chết nặng 20 kilogam giá 250.000 đồng/kilogam. Đ đồng ý mua rồi bảo người này gửi 02 (Hai) cá thể Sơn dương qua xe khách cho Đ về cầu Nguyệt Viên, Thanh Hóa. Rạng sáng ngày 27/4/2022, Đ ra khu vực cầu Nguyệt Viên, Thanh Hóa nhận 02 (Hai) cá thể Sơn dương đã chết để trong 01 (Một) tH xốp và 01 (Một) bao tải, Đ thanh toán số tiền 11.500.000 đồng (Mười một triệu năm trăm nghìn đồng) cho lái xe khách rồi mang tH xốp và bao tải chứa 02 (Hai) cá thể Sơn dương về để ở khu vực sân nhà. Đến khoảng 06 giờ ngày 27/4/2022, Đ mang tH xốp và bao tải chứa 02 (Hai) cá thể Sơn dương ra bến xe phía Bắc thành phố Thanh Hóa rồi gửi xe ô tô khách BKS 36B-034.90 tuyến Thanh Hóa đi Thái Nguyên cho người đặt mua hàng có tên tài khoản Facebook “Duy Ngọc” rồi nhắn tin gửi số điện thoại của người có tên tài khoản Facebook “Duy Ngọc” cho số điện thoại 0945.461.995 (của lái xe ô tô BKS 36B-034.90) và nhờ thu hộ số tiền 14.600.000 đồng (Mười bốn triệu sáu trăm nghìn đồng). Khoảng 12 giờ 50 phút cùng ngày, xe ô tô BKS 36B-034.90 đến bến xe khách Thái Nguyên, Đ gọi đến số điện thoại 0384.453.798 cho khách có tài khoản Facebook “Duy Ngọc” thì người này nói không có nhu cầu mua nữa và bảo có người quen ở thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên cần mua Sơn dương, sau đó có số điện thoại 0936.739.143 gọi điện cho Đ bảo Đ chuyển 02 (Hai) cá thể Sơn dương xuống khu vực trước cổng Bệnh viện đa khoa Yên Bình, thành phố Phổ Yên để người đó nhận hàng. Đ đồng ý và thỏa thuận với người này giá mua bán Sơn dương 01 (Một) cá thể đông lạnh giá 240.000đồng/kilogam, 01 (Một) cá thể mới chết giá 320.000đồng/kilogam. Sau đó, Đ dùng số điện thoại 0859.363.536 gọi cho số điện thoại 0919.751.617 của nhà xe Q Thủy bảo anh Vũ Thế H, là lái xe lấy hàng từ xe ô tô BKS 36B-034.90 để vận chuyển từ thành phố Thái Nguyên trả hàng tại cổng Bệnh viện đa khoa Yên Bình, thành phố Phổ Yên và thu hộ số tiền là 14.300.000 đồng (Mười bốn triệu ba trăm nghìn đồng).

Khoảng 14 giờ ngày 27/4/2022, xe ô tô chở khách BKS 36B-25.83 tuyến

Thái Nguyên đi Thanh Hóa đang đỗ tại bến xe khách Thái Nguyên thì anh Vũ Thế H và anh Bùi Văn T, là lái xe được anh Ân Văn Q, là nhân viên của Văn phòng bến xe khách Thái Nguyên thông báo có hàng gửi về Thanh Hóa. Anh T lái xe đến kho hàng của bến xe còn anh H và anh Q bê hàng gồm 01 (Một) tH xốp dán kín bằng băng dính màu vàng, phía trên hộp có ghi số điện thoại 0859.363.536 và 01 (Một) bao tải được bọc kín, đưa vào cốp xe. Sau đó, anh H nhận được cuộc gọi của Đ từ số 0859.363.536 bảo anh H trả hàng tại thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, người nhận hàng gọi cho anh H bằng số điện thoại 0936.739.143 xác nhận việc nhận hàng tại khu vực cổng Bệnh viện đa khoa Yên Bình, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Anh H và anh T đều không biết người gửi hàng và người nhận hàng là ai và hàng gửi là gì.

Khoảng 15 giờ ngày 27/4/2022, xe ô tô BKS 36B-025.83 đến thành phố

Phổ Yên, khi anh Vũ Thế H và anh Bùi Văn T đang đứng tại khu vực trước cổng Bệnh viện đa khoa Yên Bình thuộc tổ dân phố Chùa, phường Nam Tiến, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên cùng số hàng hóa là 01 (Một) tH xốp được dán kín và 01 (Một) bao tải được bọc kín để chuẩn bị trả hàng cho khách thì bị tổ công tác của Công an thành phố Phổ Yên làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát trên địa bàn phường Nam Tiến, thành phố Phổ Yên phát hiện. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra, quá trình kiểm tra phát hiện bên trong bao tải và tH xốp có chứa 02 (Hai) cá thể động vật đã chết, có lông màu đen, nghi là Sơn dương. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản sự việc, niêm phong số vật chứng để giải quyết theo quy định. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phổ Yên gửi 02 (Hai) cá thể động vật đã chết, có lông màu đen cùng Quyết định trưng cầu giám định số 122/QĐ-CSĐT(KTMT) tới Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

Ngày 28/4/2022, Trương T Đ đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an

thành phố Phổ Yên để đầu thú và khai nhận 02 (Hai) cá thể động vật đã chết mà Công an thành phố Phổ Yên phát hiện, thu giữ ngày 27/4/2022 là cá thể động vật “Sơn dương” của Đ, do Đ mua về để bán kiếm lời. Đồng thời Đ đã giao nộp 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu hồng, lắp sim thuê bao số 0859.363.536 (Đ khai đã sử dụng để liên lạc với các đối tượng khác để trao đổi mua bán cá thể Sơn dương). Lời khai nhận của Đ phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Cùng ngày 28/4/2022, Cơ quan quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phổ Yên đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trương T Đ tại số nhà 110, đường Tân Nam, phường Nam Ngạn, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa, quá trình khám xét không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Tại các bản Kết luận giám định động vật số 551/STTNSV ngày 29/4/2022

và số 628/STTNSV ngày 16/5/2022 của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Viện Hàn lâm khoa học và Công nghệ Việt Nam, kết luận: 02 (Hai) cá thể động vật đã chết là loài Sơn dương, có tên khoa học Capricornis milneedwardsii. Loài Sơn dương có tên trong Phụ lục I, Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, ban hành kèm theo Nghị định 64/2019/NĐ-CP ngày 16/7/2019 của Chính phủ. Loài Sơn dương có tên trong nhóm IB, Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, ban hành kèm theo Nghị định 84/2021/NĐ-CP ngày 22/9/2021 của Chính phủ. Loài Sơn dương có tên trong Phụ lục I, Danh mục các loài động vật, thực vật hoang dã thuộc Phụ lục Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) ban hành kèm theo Thông báo số 296/TB-CTVN-HTQT ngày 27/11/2019 của Cơ quan quản lý CITES Việt Nam.

Vật chứng của vụ án: 02 (Hai) cá thể Sơn dương đã chết Cơ quan điều tra

đã giao cho Bảo tàng thiên nhân Việt Nam thuộc Viện Hàn lâm khoa học và Công nghệ Việt Nam lưu giữ, bảo quản, quản lý theo quy định của Nhà nước đối với các mẫu vật, tài sản quý hiếm;

01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu hồng, cũ, đã qua

sử dụng, số IMEI: 353811089159894, lắp sim số 0859.363.536; 01 (Một) tH xốp bên ngoài dán nhiều băng dính màu vàng, trên nắp có ghi số 0859363536 bằng mực màu đỏ; 01 (Một) mảnh bạt màu bạc và 01 (Một) mảnh túi ni lông được chuyển đến kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên chờ xử lý.

Hành vi nêu trên nên tại bản Cáo trạng số: /CT-VKSPY ngày tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Trương T Đ về tội: “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 244 Bộ luật Hình sự.

Kết thúc phần thẩm vấn công khai, Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành

phố Phổ Yên giữ Q công tố, kiểm sát xét xử giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như bản Cáo trạng số: 154/CT-VKSPY ngày 19 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên và đề nghị Hội đồng xét xử:

* Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trương T Đ về tội: “Vi phạm quy định về bảo vệ

động vật nguy cấp, quý, hiếm” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 244 Bộ luật Hình sự.

* Về hình phạt:

- Hình phạt chính: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 244 Bộ luật Hình sự;

điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Trương T Đ từ tháng đến 24 tháng đến 30 tháng tù. Thời hạn tù

tính từ ngày tạm giam 28/4/2022.

- Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 4 Điều 244 BLHS; Phạt tiền bị cáo Đ

50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng).

* Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật

Tố tụng hình sự.

- Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu

Iphone 7 Plus, màu hồng, cũ, đã qua sử dụng, số IMEI: 353811089159894, lắp sim số 0859.363.536;

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) tH xốp bên ngoài dán nhiều băng dính màu

vàng, trên nắp có ghi số 0859363536 bằng mực màu đỏ; 01 (Một) mảnh bạt màu bạc và 01 (Một) mảnh túi ni lông được chuyển đến kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên chờ xử lý.

* Về án phí và Q kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định

của pháp luật. Bị cáo, bị hại được Q kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Trong phần tranh luận bị cáo, người có Q lợi và nghĩa vụ liên quan không

có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất để chóng cải tạo,

sửa chữa lỗi lầm, làm người công dân có ích cho gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra

Công an thành phố Phổ Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, Kiểm sát viên trong điều tra, truy tố: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an thành phố Phổ Yên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm Q, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn

bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã mô tả, bị cáo xác định bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan. Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa là tự nguyện, khách quan, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản thu giữ vật chứng, lời khai của người có Q lợi và nghĩa vụ liên quan, kết luận định giá tài sản. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:

Do hám lợi nên sáng ngày 27/4/2022, Trương T Đ đã có hành vi mua trái

phép 02 (Hai) cá thể Sơn dương đã chết (là động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ) rồi bán trái phép lại cho người có tài khoản Facebook là “Duy Ngọc” với giá 14.600.000 đồng (Mười bốn triệu sáu trăm nghìn đồng). Đến hồi 15 giờ ngày 27/4/2022, khi xe ô tô khách BKS 36B-025.83 vận chuyển 02 (Hai) cá thể Sơn dương đã chết của Đ đến khu vực trước cổng Bệnh viện đa khoa Yên Bình thuộc tổ dân phố Chùa, phường Nam Tiến, thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, để Đ giao cho khách thì bị Công an thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên phát hiện, thu giữ vật chứng.

Hành vi, ý thức của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về

bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”. Do đó, Bản cáo trạng số: 154/CT-VKSPY ngày 19 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Trương T Đ về tội danh và điều luật viện dẫn là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

“Điều 244. Tội vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm

1. Người nào vi phạm quy định về bảo vệ động vật thuộc Danh mục loài

nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm nhóm IB ... thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:...

b) ..., buôn bán trái phép cá thể, bộ phận cơ thể không thể tách rời sự

sống hoặc sản phẩm của động vật quy định tại điểm a khoản này;”

Xét các yếu tố nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm

hình sự đối với bị cáo thì thấy:

- Về nhân thân: Ngày 16/7/2007 có hành vi “Giết người” bị Tòa án nhân

dân tối cao xử phạt 09 năm tù tại Bản án số 181/2008/HSPT ngày 21/3/2008. Bị can chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/02/2016 và chấp hành xong bản án ngày 24/4/2020.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại

phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình, sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Do đó Hội đồng xét xử thấy rằng có căn cứ cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” và “Người phạm tội đầu thú”; được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình

tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội,

các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các yếu tố về nhân thân khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, 02 (Hai) cá thể

động vật đã chết là loài Sơn dương, có tên khoa học Capricornis milneedwardsii. Loài Sơn dương có tên trong Phụ lục I, Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, ban hành kèm theo Nghị định 64/2019/NĐ-CP ngày 16/7/2019 của Chính phủ. Loài Sơn dương có tên trong nhóm IB, Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm, ban hành kèm theo Nghị định 84/2021/NĐ-CP ngày 22/9/2021 của Chính phủ. Loài Sơn dương có tên trong Phụ lục I, Danh mục các loài động vật, thực vật hoang dã thuộc Phụ lục Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) ban hành kèm theo Thông báo số 296/TB-CTVN-HTQT ngày 27/11/2019 của Cơ quan quản lý CITES Việt Nam.

Xét thấy, mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị

cáo tại phiên tòa là phù hợp được chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo thực hiện hành vi mua bán có tính chất vụ

lội. Do vậy cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng)

Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật

Tố tụng hình sự:

- Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu

Iphone 7 Plus, màu hồng, cũ, đã qua sử dụng, số IMEI: 353811089159894, lắp sim số 0859.363.536;

- Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) tH xốp bên ngoài dán nhiều băng dính màu

vàng, trên nắp có ghi số 0859363536 bằng mực màu đỏ; 01 (Một) mảnh bạt màu bạc và 01 (Một) mảnh túi ni lông

Đối với tài khoản Facebook có tên “Đình P” mà Đ liên lạc đặt mua Sơn

dương, Cơ quan điều tra đã xác minh số điện thoại 0942.158.357 mà Đ lưu trong danh bạ là “Đình P Quảng Trị”, kết quả chủ đăng ký số điện thoại trên là chị Nguyễn Trần Như Q, sinh năm 1994; trú tại: thôn Cổ Nhổi, xã Hướng P, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị. Chị Q khai năm 2019, chị Q sử dụng số điện thoại 0942.158.357, đến năm 2021 chị Q không dùng số điện thoại trên nữa và không biết hiện nay ai đang sử dụng số điện thoại 0942.158.357. Việc Trương T Đ mua bán Sơn dương chị Q không biết và không liên quan. Quá trình xác minh với chồng chị Q là anh Nguyễn Đình P, sinh năm 1991; trú tại: thôn Cổ Nhổi, xã Hướng P, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị, anh P xác định không biết và không mua bán động vật với Trương T Đ. Do vậy không có căn cứ xử lý đối với chị Q và anh P.

Tiến hành xác minh số điện thoại 0384.453.798 của người có tên tài khoản

Facebook “Duy Ngọc” ở Thái Nguyên đã đặt mua Sơn dương với Đ, kết quả chủ đăng ký số điện thoại trên là anh Hoàng Văn Q (sinh năm 1994; trú tại: xóm 3 Trạng Duệ, xã Lê Lợi, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng). Tiến hành xác minh số điện thoại 0936.739.143 của người đặt mua Sơn dương của Đ tại thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên, kết quả chủ đăng ký số điện thoại trên là anh Nguyễn Công D, sinh năm 1985; trú tại: thôn Phú Cường, xã Nhuế Dương, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. Anh Q và anh D đều xác định không sử dụng các số điện thoại trên và không biết ai đang sử dụng; anh Q và anh D không biết Trương T Đ là ai và không đặt mua Sơn dương với Đ. Do vậy không có căn cứ xử lý đối với anh Q và anh D.

Trong vụ án này, ông Lê Hữu D, sinh năm 1970; trú tại: P517 D1 N3

Chung cư Mai Xuân Dương, Đông Thọ, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa, là lái xe ô tô khách BKS 36B-034.90 chở số Sơn dương trong tH xốp và bao tải từ Thanh Hóa đến Thái Nguyên; anh Vũ Thế H, anh Bùi Văn T là lái xe ô tô khách BKS 36B-025.83 chở số Sơn dương trong tH xốp và bao tải từ thành phố Thái Nguyên xuống thành phố Phổ Yên; quá trình điều tra xác định ông D, anh H và anh T đều không biết trong tH xốp và trong bao tải có chứa Sơn dương nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với ông D, anh H, anh T là phù hợp.

Đối với anh Ân Văn Q là nhân viên tại Văn phòng ký gửi hàng hóa Bến xe

khách Thái Nguyên. Ngày 27/4/2022, anh Q nhận hàng (đã được bọc kín) từ một người nữ giới không quen biết để gửi về thành phố Thanh Hóa, sau đó anh Q báo với nhà xe Q Thủy BKS 36B-025.83 lấy hàng gửi về Thanh Hóa. Quá trình nhận hàng và giao hàng cho lái xe, anh Q không kiểm tra hàng và không biết bên trong có chứa Sơn dương nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với anh Q là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[98 Q kháng cáo: Bị cáo, người có Q lợi và nghĩa vụ liên quan được Q

kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Khoản 1 Điều 244; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật

Hình sự.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trương T Đ phạm tội “Vi phạm quy định

về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm”.

2. Về hình phạt:

2.1 Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Trương T Đ 24 (Hai mươi bốn) tháng

tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 28/4/2022.

Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Quết định tạm giam bị cáo

Trương T Đ 45 (Bốn mươi lăm) ngày để đảm bảo thi hành án phạt tù.

2.2 Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 4 Diều 244 Bộ luật hình sự;

Phạt tiền đối với bị cáo Đ 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) để sung quỹ nhà nước.

3. Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ

luật Tố tụng hình sự:

* Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu

Iphone 7 Plus, màu hồng, cũ, đã qua sử dụng, số IMEI: 353811089159894, lắp sim số 0859.363.536;

* Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) tH xốp bên ngoài dán nhiều băng dính màu

vàng, trên nắp có ghi số 0859363536 bằng mực màu đỏ; 01 (Một) mảnh bạt màu bạc và 01 (Một) mảnh túi ni long. (theo biên bản giao nhận ngày 21/10/2022)

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/NQ –

UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo Trương T Đ phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) án phí hình sự

sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.

5. Q kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự,

được Q kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có Q lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được Q kháng cáo trong

hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ