vanban.org

Bản án 154/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Mộc Châu, tỉnh Sơn La Tuyên án 30/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày 11/3/2022. Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỘC CHÂU
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 154/2022/HS-ST
Ngày 30-8-2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Hương.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lò Thị Minh và bà Nguyễn Thị Hiền.

- Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Nga - Thư ký Toà án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Bà Trịnh Thị Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huy n Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 155/2022/TLST-HS ngày 17/8/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 154/2022/QĐXXST- HS ngày 19/8/2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn C, sinh năm 1983 tại, huy n M, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản T, xã N, huy n M, tỉnh Sơn La; nghề nghi p: Trồng trọt; trình độ văn hóa (học vấn): Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Vi t Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; Con ông Nguyễn Văn A và bà Lường Thị D; bị cáo có vợ là Hà Thị U và 02 con; tiền án: Không.

- Tiền sự: Ngày 15/12/2019, Nguyễn Văn C bị Toà án nhân dân huy n Mộc Châu quyết định áp dụng bi n pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghi n bắt buộc đối với Nguyễn Văn C thời hạn 24 tháng (Chưa được xóa tiền sự).

- Nhân thân: + Ngày 30/6/2005, Nguyễn Văn C bị Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xử phạt 5 năm tù giam về tội Mua bán trái phép chất ma túy.

+ Ngày 22/12/2016, Nguyễn Văn C bị Toà án nhân dân huy n Mộc Châu quyết định áp dụng bi n pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghi n bắt buộc đối với thời hạn 24 tháng.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/3/2022 đến nay. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài li u có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 8h00’ ngày 11/3/2022, tổ công tác công an xã N phối hợp với cơ quan chức năng làm nhi m vụ tại khu vực bản T, xã N, huy n M kiểm tra đối với Nguyễn Văn C đang đi bộ trên đường dân sinh. Qua kiểm tra, phát hi n Nguyễn Văn C cất giấu bên trong túi áo khoác bên phải đang mặc trên người 09 gói giấy màu trắng có hoa văn bên trong mỗi gói đều đựng cục chất bột màu trắng nghi là Heroine. C khai nhận đó là ma tuý Heroine của C cất giấu để sử dụng cho bản thân. Căn cứ hành vi vi phạm của Nguyễn Văn C, tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ niêm phong vật chứng và dẫn giải Nguyễn Văn C bàn giao cho Cơ quan CSĐT Công an huy n Mộc Châu để điều tra, làm rõ.

Ngày 11/3/2022, Cơ quan CSĐT Công an huy n Mộc Châu tiến hành xác định khối lượng cục chất bột màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn C có khối lượng 0,35 gam, lấy toàn bộ 0,35 gam làm mẫu trưng cầu giám định, mẫu có ký hi u C.

Tại Kết luận giám định số 472 ngày 15/3/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận:“Mẫu gửi giám định ký hiệu C là ma túy; loại Heroine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,35 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,35 gam; loại Heroine”.

Quá trình điều tra Nguyễn Văn C khai nhận: Bản thân nghi n chất ma túy. Khoảng 16 giờ ngày 10/3/2022, C đến nhà Lường Văn S, sinh năm: 1998, trú quán: Bản T, xã N, huy n M rủ S đi lên đồi chè trái tim ở thị trấn N để chụp ảnh, S đồng ý. S lấy chiếc xe máy nhãn hi u YAMAHA Sirius không nhớ biển kiểm soát của ông Lường Văn K, sinh năm: 1979, trú quán: Bản T, xã N, huy n M (là bố đẻ của S) rồi chở C đi chơi. Trên đường đi đến tiểu khu B, thị trấn N, C nhìn thấy người đàn ông dân tộc Mông không quen biết đang đi bộ. C bảo S dừng xe, C đi đến chỗ người đàn ông đó hỏi mua được 01 gói giấy màu trắng bên trong đựng Heroine với giá 150.000 đồng. Sau khi mua được Heroine, C cất giấu vào túi áo khoác bên phải đang mặc rồi đi đến chỗ S đang chờ, S điều khiển xe máy chở C đến đồi chè trái tim chơi, sau đó đi về nhà. Khi về đến cổng nhà S, C xuống xe đi bộ về. Khi về đến nhà, C mở gói ma túy vừa mua được lấy một ít sử dụng, số còn lại C chia làm 9 gói nhỏ rồi cất giấu vào túi áo khoác đang mặc để sử dụng dần. Đến sáng ngày 11/3/2022, C mang theo số ma túy đi tìm nơi sử dụng. Trên đường đi gặp tổ công tác Công an xã N phối hợp với các cơ quan chức năng kiểm tra, phát hi n, bắt quả tang.

Lường Văn S khai nhận: Khoảng 16h ngày 10/3/2022, S đang ở nhà thì Nguyễn Văn C đến rủ đi mua ma túy sử dụng, S đồng ý. C điều khiển xe máy nhãn hi u Honda không rõ biển kiểm soát chở S đi về nhà C. Sau đó C lấy ra 01 gói Heroine và cùng S sử dụng hết. Sau đó, S điều khiển xe máy của C chở C đi lên tiểu khu P, thị trấn N tìm mua ma túy sử dụng. Khi đi đến tiểu khu P, thì gặp một người phụ nữ dân tộc Mông không quen biết, C xuống xe đi đến chỗ người phụ nữ đó hỏi mua được 02 gói nilon đều đựng Heroine. C cầm hai gói Heroine trong lòng bàn tay rồi cùng S đi vào vườn mận cạnh đường lấy một ít ra cùng sử dụng ma túy. Sau khi sử dụng Heroine xong, C và S đi về, trên đường về C đón thêm Lường Văn H, sinh năm: 1996, trú quán: Bản T, xã N, huy n Mộ đi cùng. Trên đường đi về C rủ S và Hg vào bụi chuối ven đường, C lấy một ít Heroine ra cùng S và H sử dụng. Số Heroine còn lại C gói bằng vỏ gói cũ, sau đó cùng S, H đi về.

Tại bản Cáo trạng số 120/CT- VKS ngày 16 tháng 8 năm 2022 của Vi n kiểm sát nhân dân huy n Mộc Châu, tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại di n Vi n kiểm sát nhân dân huy n Mộc Châu, tỉnh Sơn La giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy và đề nghị áp dụng các căn cứ pháp luật xử lý đối với bị cáo như sau:

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Văn C từ 27 tháng đến 30 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

- Về vật chứng của vụ án: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì có ghi dòng chữ: Vật chứng vụ: Nguyễn Văn C, sn: 1983, bắt ngày 11/3/2022 (09 mảnh giấy màu trắng có hoa văn vỏ gói niêm phong ban đầu); 01 (một) phong bì có ghi dòng chữ: test thử ma túy của Nguyễn Văn C, ngày 11/3/2022, kq: Dương tính; 01 (một) phong bì thư có ghi dòng chữ: test thử ma túy của Lường Văn S, ngày 25/5/2022, kq: Dương tính và 01 (một) phong có ghi dòng chữ: Vật chứng vụ: Nguyễn Văn C – Cất giấu trái phép chất ma túy xảy ra ngày 13/3/2022 gồm có: 01 phong bì niêm phong mẫu gửi giám định đã bóc mở + 01 túi nilon đựng chất bột màu trắng thuộc mẫu gửi giám định ký hi u C không sử dụng đến trong quá trình giám định có khối lượng 0,24 gam.

- Về án phí: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Sau khi đại di n Vi n kiểm sát phát biểu quan điểm xử lý các vấn đề của vụ án bị cáo hoàn toàn nhất trí với quan điểm của đại di n Vi n Kiểm sát và có lời nói sau cùng xin được giảm nhẹ mức hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài li u trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[ ] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huy n Mộc Châu, Điều tra viên, Vi n kiểm sát nhân dân huy n Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hi n đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hi n đều hợp pháp.

[ ] Về tội danh: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan Điều tra, số ma túy bị tổ công tác Công an xã N, huy n M thu giữ có nguồn gốc của bị cáo mua được của một người đàn ông không quen biết với giá 150.000đ vào ngày 10/3/2022, mục đích để sử dụng. Lời khai của bị cáo không có nội dung gì thay đổi so với lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra, bị cáo khẳng định vi c khai báo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguy n và đúng với hành vi đã thực hi n.

Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguy n phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản niêm phong đồ vật, tài li u bị tạm giữ; biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định; kết luận giám định; lời khai của người chứng kiến và các tài li u, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Từ những chứng cứ nêu trên HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Nguyễn Văn C là người có đủ năng lực trách nhi m hình sự, nhận thức được tác hại của ma túy nhưng do nghi n ma túy nên ngày 11/3/2022 bị cáo Nguyễn Văn C đã có hành vi tàng trữ 0,35 gam Heroine nhằm mục đích để sử dụng. Hành vi trên của bị cáo đã phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn C không vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng khác nên chỉ bị xét xử ở điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma tuý, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự bị cáo: Bị cáo không tình tiết tăng nặng trách nhi m hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khái báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, là đối tượng nghi n chất ma túy, đã từng bị kết án về tội Mua bán trái phép chất ma túy và 02 lần bị đưa vào cơ sở cai nghi n bắt buộc. Tại bản án số 187/2005/HSST ngày 30/6/2005, Nguyễn Văn C bị Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xử phạt 5 năm tù giam về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Tại Quyết định số 44/QĐ-TA ngày 22/12/2016 và Quyết định số 13/QĐ-TA ngày 15/12/2019, Toà án nhân dân huy n Mộc Châu quyết định áp dụng bi n pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghi n bắt buộc đối với Nguyễn Văn C với thời hạn 24 tháng. Tuy nhiên, Nguyễn Văn C không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luy n mà tiếp tục lún sâu vào con đường phạm tội.

Từ những đánh giá nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay thấy rằng bị cáo là đối tượng nghi n ma túy, sống chung với gia đình nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.

[ ] Về vật chứng, xử lý vật chứng:

Đối với: 01 (một) phong bì có ghi dòng chữ: Vật chứng vụ: Nguyễn Văn C, sn: 1983, bắt ngày 11/3/2022 (09 mảnh giấy màu trắng có hoa văn vỏ gói niêm phong ban đầu); 01 (một) phong bì có ghi dòng chữ: test thử ma túy của Nguyễn Văn C, ngày 11/3/2022, kq: Dương tính; 01 (một) phong bì thư có ghi dòng chữ: test thử ma túy của Lường Văn S, ngày 25/5/2022, kq: Dương tính và 01 (một) phong có ghi dòng chữ: Vật chứng vụ: Nguyễn Văn C – Cất giấu trái phép chất ma túy xảy ra ngày 13/3/2022 gồm có: 01 phong bì niêm phong mẫu gửi giám định đã bóc mở + 01 túi nilon đựng chất bột màu trắng thuộc mẫu gửi giám định ký hi u C không sử dụng đến trong quá trình giám định có khối lượng 0,24 gam. Xét thấy, đây là những vật thuộc loại Nhà nước cấm mua bán, lưu hành, không có giá trị sử dụng. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.

[ ] Về các vấn đề khác:

Đối với Lường Văn S: Quá trình giải quyết vụ án, Lường Văn S bỏ trốn khỏi địa phương. Ngày 15/6/2022, Lường Văn S đã chết do tai nạn giao thông tại tổ dân phố T, xã D, thị xã M, tỉnh Hưng Yên nên Cơ quan CSĐT Công an huy n Mộc Châu không tiến tiến hành cho Lường Văn S và Nguyễn Văn C đối chất được.

Đối với Lường Văn H: Cơ quan CSĐT Công an huy n Mộc Châu đã tri u tập, xác minh nhiều lần nhưng Lường Văn H không có mặt tại địa phương. H đi đâu, làm gì gia đình và chính quyền địa phương không nắm được. Do đó không lấy được lời khai và không có căn cứ xử lý Lường Văn H về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Đối với ông Lường Văn K: Quá trình điều tra xác định ông Lường Văn K, sinh năm: 1979, trú quán: Bản T, xã N, huy n M, tỉnh Sơn La (bố đẻ của Lường Văn S) có sở hữu 01 chiếc xe máy nhãn hi u YAMAHA Sirius BKS: 26B1 – 115.18. Ông K khẳng định, ngày 10/3/2022 ông K không cho S mượn chiếc xe máy trên, cũng không thấy S sử dụng chiếc xe máy trên, do đó không có căn cứ để tạm giữ chiếc xe.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Nguyễn Văn C, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ. Do đó, không có căn cứ để điều tra, làm rõ và xử lý.

[ ] Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án.

Về thời hạn tạm giam: Xét thấy thời hạn tạm giam của bị cáo còn trên 45 ngày, do đó, Hội đồng xét xử không ra quyết định tạm giam sau phiên tòa đối với bị cáo.

Vì các l trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày 11/3/2022.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (Phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Về vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu, tiêu hủy: : 01 (một) phong bì có ghi dòng chữ: Vật chứng vụ: Nguyễn Văn C, sn: 1983, bắt ngày 11/3/2022 (09 mảnh giấy màu trắng có hoa văn vỏ gói niêm phong ban đầu); 01 (một) phong bì có ghi dòng chữ: test thử ma túy của Nguyễn Văn C, ngày 11/3/2022, kq: Dương tính; 01 (một) phong bì thư có ghi dòng chữ: test thử ma túy của Lường Văn S, ngày 25/5/2022, kq: Dương tính và 01 (một) phong có ghi dòng chữ: Vật chứng vụ: Nguyễn Văn C – Cất giấu trái phép chất ma túy xảy ra ngày 13/3/2022 gồm có: 01 phong bì niêm phong mẫu gửi giám định đã bóc mở + 01 túi nilon đựng chất bột màu trắng thuộc mẫu gửi giám định ký hi u C không sử dụng đến trong quá trình giám định có khối lượng 0,24 gam theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 150/BBVC-CCTHA ngày 17/8/2022 giữa Công an huy n Mộc Châu và Chi cục Thi hành án dân sự huy n Mộc Châu.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và l phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn C phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ