- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Cao C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Cao C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy’;
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 154/2019/HSST Ngày 18/6/2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT- TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Diễm Hương;
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Thanh Hồng;
- Bà Nguyễn Thị Bình;
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Bích Dịu - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Thắm- Kiểm sát viên;
Ngày 18 thàng 6 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 122/2019/HSST, ngày 10 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 150/2019/QĐXXST- HS ngày 07 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo:
Họ và tên: NGUYỄN CAO C- Sinh ngày 24 tháng 10 năm 1985; tại tỉnh: Thừa Thiên Huế; Nơi cư trú: Đường Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Thợ sắt; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Nguyễn G; con bà Hồ Thị L; Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị H và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/01/2019 đến nay, có mặt tại phiên tòa;
- Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Cao L- Sinh năm 1990 (Có mặt);
Địa chỉ: Đường Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk;
- Ngƣời chứng kiến:
01. Chị Gì Khoa Quế H- Sinh năm 1993 (Vắng mặt);
Địa chỉ: Đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk;
02. Anh Nguyễn Thanh T- Sinh năm 1989 (Vắng mặt);
Địa chỉ: Dường N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Cao C là người sử dụng chất ma túy Methamphetamine. Vào khoảng 23 giờ 00 phút ngày 23/01/2019, C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha - Sirius, màu trắng - đen, biển số XXX đến quán nhậu vỉa hè trước địa chỉ: Đường Y, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk gặp một người bạn tên T (không rõ nhân thân, lai lịch) để nhờ T mua ma túy đá với giá 1.000.000 đồng thì T đồng ý. T cầm tiền và mượn xe của C đi khoảng 15 phút, quay lại đưa cho C 01 (một) gói nylon quấn băng keo màu đen chứa chất rắn dạng tinh thể. C cất gói chất rắn vào túi áo khoác bên trái, phía trước rồi điều khiển xe đi lang thang trên đường thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Khoảng 03 giờ 00 phút ngày 24/01/2019, khi C đi đến khu vực ngã tư đường A giao với đường Đ, phường T, thành phố B thì bị Công an phường T phát hiện, bắt quả tang, thu giữ của của C 01 gói nylon quấn băng keo chứa chất rắn dạng tinh thể, C khai nhận là ma túy đá, được niêm phong theo quy định của pháp luật.
Tại bản Kết luận giám định số 99/GĐMT-PC09 ngày 29/01/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận: Chất rắn dạng tinh thể đựng trong 01 (một) gói nylon được quấn băng keo màu đen được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại: Methamphetamine, có tổng khối lượng 0,8580 gam.
Tại bản cáo trạng số: 143/KSĐT- HS, ngày 09 tháng 5 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk truy tố bị cáo Nguyễn Cao C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Kết quả xét hỏi tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Cao C khai nhận hành vi bị cáo đã thực hiện đúng như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và đúng như nội dung Bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Cao C như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Cao C mức án từ 02 (Hai ) năm đến 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù;
Các biện pháp tƣ pháp: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra côn an thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha - Sirius, màu trắng - đen, biển số XXX, cho Nguyễn Cao L;
- Đối với 0,8132 gam ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau giám định được niêm phong tại gói số 99/GĐMT-PC09 ngày 29/01/2019 là vật chứng của vụ án, cần tịch thu, tiêu hủy.
Bị cáo không bào chữa, không có ý kiến gì tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi của bị cáo, xét thấy: Vào khoảng 03 giờ 00 phút ngày 24/01/2019, tại khu vực ngã tư đường A và Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, Nguyễn Cao C có hành vi tàng trữ trái phép 0,8580 gam ma túy, loại: Methamphetamine, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt quả tang cùng tang vật. Như vậy hành vi bị cáo Nguyễn Cao C thực hiện đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự;
Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a,……;
b,……;
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
…”.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, không những đã xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các loại dược chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an tại địa phương; hơn nữa, tác hại của ma túy đến sức khỏe của con người là rất lớn, là một trong những nguyên nhân dẫn đến căn bệnh chết người HIV/AIDS và cũng là nguyên nhân làm là gia tăng các loại tội phạm hình sự khác như “Trộm cắp tài sản”, “Cướp giật tài sản”... Bị cáo là người có nhân thân xấu, nhưng không chịu tu dưỡng bản thân mà vẫn bất chấp pháp luật, cố ý thực hiện tội phạm, do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do lỗi cố ý gây ra; và cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định thì mới có tác dụng cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải do đó cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, nhằm thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật Nhà nước ta.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Cao C, Công an thành phố B đã ra Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo.
Đối với người đàn ông tên T (không rõ nhân thân, lai lịch) là người đã bán ma túy cho C, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã tiến hành xác minh nhưng chưa xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng nêu trên nên đã tách hành vi của T khỏi vụ án để tiếp tục điều tra, xử lý sau.
Về hành vi, Quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến gì về hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha - Sirius, màu trắng - đen, biển kiểm soát XXX của anh Nguyễn Cao L cho bị cáo C mượn làm phương tiện đi lại, anh L không biết được C sử dụng xe đi mua ma túy; do đó Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma thuột đã ra Quyết định xử lý vật chứng giao trả chiếc xe trên cho anh Nguyễn Cao L;
- Đối với 0,8132 gam ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau giám định được niêm phong tại gói số 99/GĐMT- PC09 ngày 29/01/2019 2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk là chất độc dược gây nghiện, Nhà nước cấm tàng trữ, mua bán nên cần tịch thu, tiêu hủy.
(Đặc điểm, số lượng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 10/5/2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Buôn Ma Thuột và Cơ quan Thi hành án dân sự thành phố B).
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật;
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Cao C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy’;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Cao C 02 (Hai) năm tù;
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt, ngày 24/01/2019;
* Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát triều tra công an thành phố Buôn Ma Thuột đã ra Quyết định xử lý vật chứng giao trả 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha - Sirius, màu trắng - đen, biển kiểm soát XXX cho anh Nguyễn Cao L;
- Tịch thu, tiêu hủy 0,8132 gam ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau giám định được niêm phong tại gói số 99/GĐMT- PC09 ngày 29/01/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk;
(Đặc điểm, số lượng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 10/5/2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Buôn Ma Thuột và Cơ quan Thi hành án dân sự thành phố B).
* Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Cao C phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT1- TAND Tối cao; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - TAND tỉnh Đắk Lắk; - Sở tư pháp tỉnh Đắk Lắk; - VKSND TP. BMT; - Công an TP. Buôn Ma Thuột; - Bị cáo; - Các đương sự; - Lưu HS; - Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Đỗ Thị Diễm Hƣơng |