- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Sùng A C - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Sùng A C phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH SƠN LA Bản án số: 154/2018/HSST Ngày 09-7-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Triệu Văn Quang.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Đình Bản và bà Lò Thị Minh.
- Thư ký phiên toà: Ông Bàn Văn Sơn là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.
- Đ diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Sa Văn Quỳnh – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 152/2018/TLST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 155/2018/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo:
Sùng A C, sinh năm 1947 tại T, Yên Bái; nơi cư trú: Tiểu khu P, thị trấn N, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hoá (học vấn): Không; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Sùng A S và bà Mùa Thị V; bị cáo có vợ là Cứ Thị M và 05 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/4/2018 đến ngày 14/4/2018 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
Người làm chứng:
+ Anh Ngần Văn T. Vắng mặt.
+ Anh Nguyễn Văn Đ. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 11/4/2018, Ngần Văn T và Nguyễn Văn Đ gặp nhau tại ngã ba tiểu khu Pa Khen 1, thị trấn Nông trường Mộc Châu, huyện Mộc Châu, T rủ Đ đi mua ma túy sử dụng, Đ đồng ý và góp 50.000 đồng với T để mua ma túy, còn T có 200.000 đồng. Sau đó, T và Đ đi bộ đến nhà Sùng A C, trú tại Tiểu khu P, thị trấn N, huyện M thì gặp C đang ở nhà một mình, Đ ở ngoài còn T đã hỏi và mua được của C 01 viên ma túy tổng hợp và 01 gói Heroine được gói bằng mảnh ni lon màu hồng với giá 250.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T và Đ đi vào vườn mận cạnh nhà C sử dụng, khi T và Đ vừa sử dụng hết xong ma túy thì bị tổ công tác Công an huyện Mộc Châu phát hiện lập biên bản về hành vi vi phạm hành chính, thu giữ 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ; 01 mảnh ni lon màu hồng; 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy.
Mở rộng điều tra, ngày 11/4/2018, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu đã thi hành Lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp đối với Sùng A C. Quá trình bắt giữ đã thu giữ số tiền 250.000 đồng là tiền C đã bán ma túy cho T. Quá trình điều tra, Sùng A C khai nhận số ma túy C bán cho T là do C mua của một người phụ nữ dân tộc Mông không quen biết từ ngày 10/4/2018 với giá 150.000 đồng tại đường dân sinh thuộc Tiểu khu P, thị trấn N, huyện M, tỉnh Sơn La.
Cơ quan điều tra Công an huyện Mộc Châu đã tiến hành thử test đối với Ngần Văn T, Nguyễn Văn Đ. Kết quả Ngần Văn T và Nguyễn Văn Đ đều dương tính với ma túy.
Cáo trạng số 105/CT-VKSMC ngày 25/6/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu truy tố Sùng A C về tội: Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Sùng A C phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy. Áp dụng các căn cứ pháp luật xử phạt bị cáo như sau:
1. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s, o khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Sùng A C từ 24 tháng đến 30 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Về vật chứng của vụ án: Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 250.000 đồng.
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ; 01 mảnh nilon màu hồng; 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy; 01 phong bì đã niêm phong bên trong đựng 01 Test thử ma túy của Ngần Văn T; 01 phong bì đã niêm phong bên trong đựng 01 Test thử ma túy của Nguyễn Văn Đ.
3. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Sùng A C khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai trong quá trình điều tra.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mộc Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo và trách nhiệm hình sự:
Tại phiên toà, bị cáo vẫn giữ nguyên lời khai tại Cơ quan điều tra, bị cáo không thay đổi, bổ sung thêm nội dung gì làm thay đổi nội dung của vụ án. Bị cáo hoàn toàn nhất trí với cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mộc Châu. Bị cáo khẳng định việc khai báo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa ngày hôm nay là hoàn toàn tự nguyện và đúng với sự việc bị cáo đã thực hiện.
Xét lời khai của bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với biên bản bắt người vi phạm hành chính lập hồi 14 giờ 00 phút ngày 11/4/2018 đối với Ngần Văn T, Nguyễn Văn Đ; vật chứng đã thu giữ, lời khai của những người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Từ những chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Ngày 11/4/2018, Sùng A C đã có hành vi bán trái phép 01 viên ma túy tổng hợp (Hồng phiến) và 01 gói Heroine cho Ngần Văn T với giá 250.000 đồng, mục đích để kiếm lời. Hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma tuý theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự có mức hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm tới chế độ quản lý độc quyền chất ma tuý của Nhà nước, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, làm gia tăng các tệ nạn xã hội.
Xét về nhân thân của bị cáo thấy rằng, bị cáo không nghiện hút chất ma túy song do hám lời bị cáo đã tàng trữ ma túy nhằm mục đích bán lẻ kiếm lời. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma tuý đối với bản thân, gia đình và xã hội nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra, cần cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội một thời gian là cần thiết, có như vậy mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa Cng.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt đối với bị cáo cũng cần xem xét, bị cáo phạm tội lần đầu, sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã trên 70 tuổi. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, điểm o khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo phần nào.
Về hình phạt bổ sung (phạt tiền): Quá trình điều tra và thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay thấy rằng bị cáo không có tài sản gì có giá trị, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
Về vật chứng của vụ án:
Đối với số tiền 250.000 đồng thu giữ của bị cáo, xét là tài sản do bị cáo phạm tội mà có, do đó cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ; 01 mảnh nilon màu hồng; 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy; 01 phong bì đã niêm phong bên trong đựng 01 Test thử ma túy của Ngần Văn T; 01 phong bì đã niêm phong bên trong đựng 01 Test thử ma túy của Nguyễn Văn Đ, xét không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.
Đối với người phụ nữ dân tộc Mông đã bán ma túy cho bị cáo ngày 10/4/2018 (như bị cáo khai). Quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ của người này, do đó không có căn cứ để điều tra, xử lý.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Ngần Văn T, Nguyễn Văn Đ là hành vi vi phạm hành chính. Ngày 09/5/2018, Công an huyện Mộc Châu đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định của pháp luật.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Sùng A C phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy.
1. Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s, o khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Sùng A C 24 (Hai mươi bốn) tháng tù được trừ 03 ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/4/2018 đến ngày 14/4/2018, còn phải thi hành tiếp 23 tháng 27 ngày tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày vào trại chấp hành hình phạt.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Về vật chứng của vụ án: Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 250.000 đồng (Hai trăm năm mươi nghìn đồng chẵn) do bị cáo phạm tội mà có.
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ, 01 mảnh nilon màu hồng, 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy; 01 phong bì đã niêm phong bên trong đựng 01 Test thử ma túy của Ngần Văn T; 01 phong bì đã niêm phong bên trong đựng 01 Test thử ma túy của Nguyễn Văn Đ.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Sùng A C phải chịu là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng chẵn) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Toà án nhân dân tỉnh Sơn La; - VKSND tỉnh Sơn La; - VKSND huyện Mộc Châu; - Công an huyện Mộc Châu; - Chi cục THADS huyện Mộc Châu; - Trại giam; - THAHS; - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Triệu Văn Quang |