vanban.org

Bản án 154/2017/HSST — Hình sự

TAND TP. Hải Dương, tỉnh Hải Dương Tuyên án 23/08/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Xuân N phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".

Xử phạt bị cáo Trần Xuân N 07 (bẩy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 11/3/2017. Về vật chứng: Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 41 BLHS; điểm a, c, đ khoản 2 Điều 76 BLTTHS: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Xuân N phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý". - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Xuân N phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".
  • Căn cứ chính? Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 41 Bộ luật Hình sự; Điều 46 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HẢI DƢƠNG
TỈNH HẢI DƢƠNG
Bản án số: 154/2017/HSST
Ngày: 23- 8- 2017

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƢƠNG, TỈNH HẢI DƢƠNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà: Nguyễn Thị Thu Hƣơng.

- Các Hội thẩm nhân dân :

+ Bà Hà Thị Thúy- Cán bộ nghỉ hƣu.

+ Bà Phạm Thị Lan- Cán bộ nghỉ hƣu.

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Phạm Thị Minh Hiền-Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Dƣơng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Tƣởng- Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Dƣơng, tỉnh Hải Dƣơng. Tòa án nhân dân thành phố Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 107/2017/HSST ngày 19 tháng 6 năm 2017 đối với bị cáo:

TRẦN XUÂN N, sinh 1974.

ĐKHKTT: Số 48 NQ, phƣờng PNL, thành phố Hải Dƣơng,

Tạm trú: Số 9CC2 khu đô thị TT, phƣờng CT, thành phố Hải Dƣơng.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 8/12.

Con ông Trần Xuân S và bà Nguyễn Thị T.

Hiện bị cáo sống chung với chị Nguyễn Thị H chƣa đăng ký kết hôn; bị cáo có 01 con sinh 2003.

Tiền án; Tiền sự: Chƣa.

- Tạm giữ ngày 11/3/2017.

- Tạm giam: Ngày 13/3/2017 tại Trại tạm giam Kim Chi - Công an tỉnh Hải Dƣơng đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên toà.

* Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Anh Đỗ Thanh H, sinh 1975.

ĐKHKTT: Số 05 phố BK, phƣờng THĐ, thành phố Hải Dƣơng.

Vắng mặt tại phiên toà.

NHẬN THẤY

Bị cáo Trần Xuân N bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dƣơng truy tố về hành vi phạm tội nhƣ sau: Hồi 13 giờ 45 phút ngày 11/3/2017, tại số nhà 9CC2, khu đô thị mới TT, phƣờng CT, thành phố Hải Dƣơng, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an thành phố Hải Dƣơng bắt quả tang Trần Xuân N bán trái phép 01 gói ma túy tổng hợp (dạng đá) cho Đỗ Thanh H ở khu tập thể Lilama, phƣờng Bình Hàn, thành phố Hải Dƣơng. Đồng thời phát hiện bắt giữ Nguyễn Phi L ở phƣờng Ngọc Châu, thành phố Hải Dƣơng cất giấu trái phép 01 gói ma túy tổng hợp (dạng đá), L khai vừa mua của Trần Xuân N lúc 13 giờ 40 phút ngày 11/3/2017. Thu giữ trong tay trái của H 01 gói nilon màu trắng kích thƣớc (2x2) cm, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng; thu gi÷ trªn tay phải của L 01 gói nilon màu trắng kích thƣớc (2x2) cm, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng; thu giữ trong túi quần bên trái của N đang mặc số tiền 200.000đ. Quá trình bắt giữ có sự chứng kiến của các anh Nguyễn phi L, anh Đỗ Thanh H, anh Nguyễn Đức D ở số 2/4 HQ, phƣờng QT; anh Đặng Đình Đ ở phƣờng NC; anh Nguyễn Mạnh D ở phƣờng CT, thành phố Hải Dƣơng và anh Ngô Văn C ở xã HP, huyện NS, tỉnh Hải Dƣơng.

Hồi 21 giờ cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Dƣơng khám xét khẩn cấp chỗ ở của N tại số 9CC2, khu đô thị mới TT, phƣờng CT, thành phố Hải Dƣơng, trƣớc sự chứng kiến của chị Nguyễn Thị H (hiÖn chÞ H sèng chung víi N ch a ®¨ng ký kÕt h«n) cùng trƣởng khu dân cƣ và chính quyền phƣờng CT. Thu giữ trên bàn trong phòng ngủ 01 túi nilon bên trong chứa 04 viên nén và một mảnh vỡ màu hồng; thu giữ tại nhiều vị trí trong phòng ngủ 05 gói nilon màu trắng bên trong đều chứa chất tinh thể dạng cục màu trắng.

Quá trình điều tra Trần Xuân N đã khai nhận: Do sö dông chÊt ma tóy (lo¹i ma tóy tæng hîp). S¸ng ngµy 11/3/2017 N đi đến khu vực ngã tƣ Bến Hàn, phƣờng Bình Hàn, thµnh phè H¶i D ¬ng mua đƣợc 02 gói ma túy tổng hợp (loại ma túy đá) với số tiền 300.000 đồng của một ngƣời đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ). Sau khi mua đƣợc ma túy, N mang về nhà ở số 9CC2, khu đô thị mới TT, phƣờng CT cất giấu, mục đích để bán vµ sö dông. Khoảng 13 giờ cùng ngày, khi N đang ở nhà thì có các anh Đặng Đình Đức, Nguyễn Mạnh Dũng, Nguyễn Phi L, Nguyễn Đức Dũng, Nguyễn Văn Công, đến chơi. Trong khi ngồi chơi, L hỏi mua của N 200.000 đồng ma túy tổng hợp (dạng đá), N đồng ý bán. L đƣa cho N 200.000 đồng, N cất tiền vào túi quần bên trái đang mặc rồi lấy 01 gói ma túy tổng hợp đƣa cho L. L cầm gói ma túy trên tay phải tiếp tục ngồi chơi. Khoảng 13 giờ 45 phút cùng ngày, Đỗ Thanh H đến gặp N, hỏi mua 150.000 đồng ma túy đá nhƣng bảo N cho nợ tiền, N đồng ý lấy 01 gói ma túy đƣa cho H. H cầm gói ma túy trên tay trái định đi về th× bÞ Cơ quan C¶nh s¸t ®iÒu tra Công an thành phố Hải Dƣơng phát hiện bắt quả tang. Thu giữ trong tay trái của H 01 gói nilon màu trắng kích thƣớc (2x2) cm, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng; thu gi÷ trªn tay phải của L 01 gói nilon màu trắng kích thƣớc (2x2)cm, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng; thu giữ trong túi quần bên trái của N đang mặc sè tiÒn 200.000®. Quá trình bắt giữ có sự chứng kiến của các anh Đ, D, C, Mạnh D. Nguồn gốc số ma túy Cơ quan điều tra thu giữ khi khám xét chỗ ở của N do N mua của một ngƣời đàn ông không quen biết tại khu vực ngã tƣ Bến Hàn với số tiền 150.000 đồng (không nhớ ngày mua), mục đích để sử dụng vµ b¸n.

Tại kết luận giám định số 1235/C54(TT2) ngày 29/3/2017, Viện Khoa học hình sự - Tổng cục Cảnh sát kết luận:

- Chất tinh thể màu trắng trong mẫu ký hiệu M1 (ghi thu của Nguyễn Phi L) và M2 (ghi thu của Đỗ Thanh H) gửi giám định có trọng lƣợng lần lƣợt là 0,205 gam và 0,172 gam, đều có Methamphetamine.

- Chất tinh thể màu trắng trong 05 (năm) túi nilon trong phong bì niêm phong (ghi thu giữ tại nhà Trần Xuân N) gửi giám định có tổng trọng lƣợng: 1,195 gam, đều có Methamphetamine.

- 04 (bốn) viên nén và 01 (một) mảnh viên nén màu hồng trong phong bì niêm phong (ghi thu giữ tại nhà Trần Xuân N) gửi giám định có tổng trọng lƣợng 0,407 gam, đều có Methamphetamine.

Methamphetamine nằm trong danh mục II, STT: 67, Nghị định 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ.

Tại bản cáo trạng số 115/VKS -HS ngày 16/6/2017, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dƣơng truy tố bị cáo Trần Xuân N về tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" theo điểm b khoản 2 Điều 194 BLHS.

Tại phiên tòa bị cáo N có lúc không thừa nhận hành vi phạm tội của mình và sau khi VKS hỏi bị cáo và Tòa án công bố các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Bị cáo đề nghị HĐXX chấp nhận bị cáo từ chối mời luật sƣ ông Trần Thu Nam và bà Nguyễn Thị Huệ bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dƣơng, tỉnh Hải Dƣơng thực hành quyền công tố tại phiên toà vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Trần Xuân N. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Trần Xuân N phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 BLHS.

Xử phạt bị cáo Trần Xuân N từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 11/3/2017.

- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với bị cáo.

- Về vật chứng: Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 41BLHS; điểm a, c, đ khoản 2 Điều 76 BLTTHS:

+ Tịch thu sung quĩ Nhà nƣớc 200.000đ.

+ Tịch thu tiêu hủy 1,510 gam Methamphetamine mẫu vật và vỏ bao gói hoàn lại sau giám định.

- Án phí: Áp dụng Điều 99 BLTTHS; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định mức thu án phí, lệ phí toà án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã đƣợc thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ. Ý kiến của kiểm sát viên, lời khai nhận của bị cáo và những ngƣời làm chứng.

XÉT THẤY

Tại phiên toà bị cáo có lúc không thừa nhận hành vi vi phạm pháp luật của mình. Sau khi Đại diện VKS hỏi bị cáo và Tòa án công bố các bản tự khai, biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung bị can của bị cáo N (từ bút lục 43 đến 57), bản tự khai, biên bản ghi lời khai ngƣời làm chứng anh Nguyễn Phi L (BL 58 đến 63), ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Đỗ Thanh H (BL 64-69) và Kiểm sát viên trình bày lời luận tội vẫn giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo thì bị cáo xác định không bị xét xử oan sai và thừa nhận hành vi bán trái phép chất ma túy cho anh Nguyễn Phi L và anh Đỗ Thanh H là đúng. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, biên bản bắt ngƣời phạm tội quả tang, Kết luận giám định, lời khai ngƣời làm chứng anh Đặng Đình Đức, ông Nguyễn Đức Dũng, anh Nguyễn Mạnh Dũng, anh Ngô Văn Công, chị Nguyễn Thị Hƣơng và ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Đỗ Thanh H nhƣ vậy có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 11/3/2017, Trần Xuân N cất giấu trái phép 1,979 gam Methamphetamine để sử dụng và bán. Khoảng 13 giờ 40 phút ngày 11/3/2017, tại số nhà 9CC2, khu đô thị mới TT, phƣờng CT, thành phố Hải Dƣơng, N đã bán trái phép 0,205 gam đều có Methamphetamine cho Nguyễn Phi L, tiếp đó đến khoảng 13 giờ 45 phút cùng ngày, N bán trái phép 0,172 gam đều có Methamphetamine cho Đỗ Thanh H thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Hải Dƣơng bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an TP Hải Dƣơng khám xét tại chỗ ở của N thu giữ 1,602 gam Methamphetamine, N cất giấu trái phép để sử dụng và bán.

Hành vi bị cáo mua bán trái phép chất ma túy mục đích bán ma tuý cho anh Đỗ Thanh H và anh Nguyễn Phi L kiếm lời là tình tiết định khung theo điểm b (phạm tội nhiều lần) khoản 2 Điều 194 BLHS, nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dƣơng truy tố bị cáo với tội danh và điều luật nêu trên là đúng ngƣời, đúng tội.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nƣớc về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an ninh xã hội. Việc mua bán trái phép chất ma túy Nhà nƣớc nghiêm cấm và trừng trị nghiêm khắc đối với những đối tƣợng mua, bán trái phép chất ma túy và là nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn khác trong xã hội, ảnh hƣởng xấu đến nhân cách, đạo đức, sức khỏe con ngƣời nhƣng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân. Do vậy cần có mức án nghiêm nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên toà và tại cơ quan điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo có bố đẻ ông Trần Xuân S đƣợc tặng Giấy khen UBND phƣờng PNL, bà Nguyễn Thị T là mẹ đẻ đƣợc tặng huân chƣơng kháng chiến chống Mỹ hạng 3. Do vậy bị cáo đƣợc áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46 BLHS. Nên HĐXX giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện tính nhân đạo pháp luật.

+ Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng phạt tiền đối với bị cáo.

+ Về vật chứng:

- Đối với lƣợng 1,510 gam Methamphetamine hoàn lại sau giám định là vật cấm lƣu hành cần tịch thu tiêu hủy; Đối với số tiền 200.000đ tiền bị cáo bán ma tuý cho anh L là tiền do phạm tội mà có cần tịch thu sung quỹ Nhà nƣớc; Đối với anh Đỗ Thanh H mua 150.000đ mua chịu ma túy của N chƣa thu hồi đƣợc. Xét số tiền trên là tiền do thực hiện hành vi phạm tội mà có cần truy thu của anh H 150.000đ suy quỹ Nhà nƣớc.

Theo điểm b, c khoản 1 Điều 41 BLHS; điểm a, c, đ khoản 2 Điều 76 BLHS.

+ HĐXX chấp nhận sự tự nguyện của bị cáo Trần Xuân N từ chối mời luật sƣ ông Trần Thu Nam và bà Nguyễn Thị Huệ bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa ngày 23/8/2017.

+ Đối với ngƣời bán ma túy cho N do không làm rõ đƣợc tên tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ xử lý.

+ Đối với cỏc anh Nguyễn Phi L, anh Đỗ Thanh H chƣa có tiền án về tội Tàng trữ, vận chuyển trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy, mua và cất giấu trái phép lần lƣợt 0,205 gam và 0,172 gam đều có Methamphetamine để sử dụng, Lƣợng ma túy Methamphetamine anh L và anh H tàng trữ chƣa đủ 01 gam nên Công an thành phố Hải Dƣơng đó ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với anh L và anh H là phù hợp quy định pháp luật.

+ Án phí: Bị cáo phạm tội phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 99 BLTTHS; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định mức thu án phí, lệ phí Toà án.

Vì lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Trần Xuân N phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý".

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 194; điểm p khoản 1; khoản 2 Điều 46 BLHS.

Xử phạt bị cáo Trần Xuân N 07 (bẩy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 11/3/2017.

- Về vật chứng: Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 41 BLHS; điểm a, c, đ khoản 2 Điều 76 BLTTHS:

+ Tịch thu sung quỹ Nhà nƣớc: số tiền 200.000đ (hai trăm ngàn đồng).

+ Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) phong bì niêm phong số 1235/C54 (TT2) của Viện khoa học hình sự- Tổng cục Cảnh sát bên trong là mẫu vật hoàn lại sau giám định.

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Dƣơng với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hải Dƣơng ngày 23/8/2017).

+ Truy thu sung quỹ Nhà nƣớc 150.000đ (một trăm lăm mƣơi ngàn đồng) của anh Đỗ Thanh H, sinh năm 1975. ĐKHKTT: Số 05 phố BK, phƣờng THĐ, thành phố Hải Dƣơng.

Án phí: Áp dụng Điều 99 BLTTHS; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định mức thu án phí, lệ phí. Buộc bị cáo N phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (anh H) vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo phần liên quan trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết./. Nơi gửi:

Cỡ chữ