- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Đình D1 - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 143 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo và ngườ i bi ̣ ha ̣i . Sửa một phần bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt tù và cho bị cáo Trần Đinh D1 được hưởng án treo.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 143 Bộ luật Hình sự; Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 154/2017/HSPT Ngày 21/12/2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Quỳnh
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Đứ c Thi
Ông Lê Hồng Sơn
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hồng Hà – Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Bùi Anh Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 194/2017/HSPT ngày 26/10/2017 do có kháng cáo của bị cáo và ngườ i bi ̣ ha ̣i đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 28/2017/HSST ngày 28/6/2017 của Tòa án nhân dân huyện QH- tỉnh Nghệ An.
Bị cáo kháng cáo: Trần Đình D1; tên go ̣i khác : không; sinh năm: 1960 tại huyê ̣n Thanh Chương , tỉnh Nghệ A n; nơi cư trú : xóm Minh Đình, xã Minh Hợp, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An; trình độ văn hóa: 7/10; nghề nghiệp: trồng trọt; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đình Thừa và bà Nguyễn Thị Lý; có vợ: Võ Thị Ngọ và 02 con; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ, tạm giam: không; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại kháng cáo: chị Trần Thị H1; sinh năm: 1978; trú tại: xóm Minh Đình, xã Minh Hợp, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An, vắng mặt; ủy quyền cho chồng anh Lê Tân Lâ ̣p; sinh năm 1973; trú tại: xóm Minh Đình, xã Minh Hợp, huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An; có mặt tại phiên tòa.
NHẬN THẤY:
Theo cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện QH- tỉnh Nghệ An và Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện QH– tỉnh Nghệ An thì vụ án có nội dung tóm tắt như sau:
Vào lúc 22 giờ 30 phút, ngày 06/02/2017 do bức xúc, mâu thuẫn trong việc mua bán dê trướ c đó giữa gia đinh Trần Đinh D1 và Trần Thị Hòa nên Trần Đình D1
̀
̀
đã đến vườn cam của gia đình chị Trần Thị H1 và dùng dao chặt đứt 53 cây cam, loại cây cam 15 tháng tuổi.
Tại kết luận định giá tài sản số 14 ngày 27/02/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện QHkết luận: 53 cây cam, 15 tháng tuổi có giá trị là 10.600.000 (mười triệu sáu trăm nghìn) đồng.
Với nội dung trên, Bản án hình sự sơ thẩm số 28/2017/HSST ngày 28/6/2017 của Tòa án nhân dân huyện QH- tỉnh Nghệ An đa quyết định:̃
Tuyên bố bị cáo Trần Đình D1 phạm tội “Hủy hoại tài sản”.
Áp dụng khoản 1 điều 143; điểm b, h, p khoản 1 và khoản 2 điều 46 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Trần Đình D1 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra Bản án hình sự sơ thẩm còn xử lý vật chứng, tuyên án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 29/6/2017, bị cáo Trần Đình D1 làm đơn kháng cáo đ ề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt cho bi ̣ cáo.
Ngày 10/7/2017, ngườ i bi ̣ ha ̣i chị Trần Thị Hòà kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm cho bi ̣ cáo Trần Đinh D1 được hưởng án tù treo.
̀
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Đình D1 thay đổi nội dung kháng cáo: Không đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt mà xin được hưở ng án treo. Chị Trần Thị H1 vắng mă ̣t ủy quyền cho chồng là anh Lê Tân Lập giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 248; điểm đ khoản 1 Điều 249 Bô ̣ luâ ̣t Tố tu ̣ng hinh sự. Chấp nhâ ̣n kháng cáo của bi ̣ cáo và người bị hại. Sửa
̀ một phần bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt tù và cho bị cáo Trần Đinh D1
̀ được hưởng án treo.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và ngườ i tham gia tố tu ̣ng khác.
XÉT THẤY:
Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Trần Đinh D1 khai và thừa nhận toàn bộ hành
̀
vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, lời khai của người bị hại, người làm chứng cùng vật chứng thu giữ và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được công bố, thẩm tra công khai tại phiên tòa. Như vậy, có đủ căn cứ kết luận: Vào lúc 22 giờ 30 phút, ngày 06/02/2017 do bức xúc, mâu thuẫn trong vi ệc mua bán dê trướ c đó giữa gia đinh Trần Đinh D1 và Trần Thị
̀
̀ Hòa nên Trần Đình D1 đã đến vườn cam của gia đình chị Trần Thị H1 và dùng dao chặt đứt 53 cây cam, loại cây cam 15 tháng tuổi.
Căn cứ kết luận định giá tài sản số 14 ngày 27/02/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện QHkết luận: 53 cây cam, 15 tháng tuổi có giá trị là 10.600.000 (mười triệu sáu trăm nghìn) đồng.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản thuộc quyền sở hữu của gia đinh chị Trần Thị Hòa , gây hoang mang lo lắng
̀
trong quần chúng nhân dân. Bị cáo nhận thức được tài sản của người khác là bất khả xâm phạm nhưng do không làm chủ được bản thân, bị cáo đã cố ý hủy hoa ̣i tài sản của người khác. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng khoản 1 điều 143 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Đinh D1 06 tháng tù về tội “Hủy hoa ̣i tài sản” là có căn
̀ cứ, đúng người, đúng tội.
Xét kháng cáo của bị cáo và ngườ i bi ̣ ha ̣i đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm thấy: Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội đã ra đầu thú , thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đa bỗ ̀i thườ ng toàn bộ thiệt hại, bị cáo có thời gian tham gia quân đội và có bố là người có công với cách mạng được tă ̣ng thưở ng Huy chương kháng chiến hạng Nhì. Sau khi xét xử sơ thẩm, người bị hại có đơn kháng cáo đề nghi ̣ cho bị cáo được hưởng án treo. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, trước khi phạm tội có nhân thân tốt. Thấy chưa cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục cũng đủ nghiêm, thể hiện tính khoan hồng của pháp luật như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ .
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xem xét.
Bị cáo kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
Căn cứ điểm b khoản 2 điều 248; điểm đ khoản 1 điều 249 Bộ luật tố tụng hình sự;
QUYẾT ĐỊNH
1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo và ngườ i bi ̣ ha ̣i . Sửa một phần bản án sơ thẩm, giữ nguyên mức hình phạt tù và cho bị cáo Trần Đinh D1 được hưởng án treo.
̀
Áp dụng: khoản 1 điều 143; các điểm b, h, p khoản 1, khoản 2 điều 46; điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999:
Xử phạt: bị cáo Trần Đình D1 06 tháng tù về tô ̣i "hủy hoại tài sản" nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng tinh từ ngày tuyên án phúc thẩm.
́
Giao bị cáo Trần Đình D1 cho Uỷ ban nhân dân xã Minh Hợp – huyện QH– tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp Trần Đinh D1 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại
̀ khoản 1 điều 69 Luật thi hành án hình sự.
2. Về án phí: Bị cáo Trần Đình D1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Nghệ An; - Sở Tư pháp tinh Nghê ̣̉ An; - TAND huyê ̣n QH - VKSND; CA huyện QH; - Chi cục THADS huyện QH; - UBND xa Minh Hợ̃ p- QH; - Bị cáo, bị hại; - Lưu hồ sơ vụ án. Tòa HS; HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM: CÁC THẨM PHÁN: | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Quỳnh THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |