- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thừa kế tài sản — án dân sự — "ông Phan Văn N khởi kiện Phan T"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Phan Văn N, bà Phan Thị G, ông Phan Văn B, bà Phan Thị H, bà Phan Thị L (Vũ).
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 Án phí, lệ phí tòa án; Điều 100 Luật Đất đai
| TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án: 153/2025/DS-PT Ngày 29 - 8 - 2025 V/v: Tranh chấp về thừa kế QSD đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận QSD đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thành Long
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Văn Tửu
Ông Hà Huy Cầu
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Thu Trang - Thư ký Tòa Phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Công Thành - Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 29 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Toà phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 399/2025/TLPT-DS ngày 19 tháng 03 năm 2024 về việc: “Tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 27/2024/DS-ST ngày 06 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân tỉnh Đồng Nai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 461/2025/QĐ-PT ngày 13 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
1. Ông Phan Văn N, sinh năm: 1953. Địa chỉ: 449/B, tổ 1, ấp 3, xã H, huyện T, tỉnh Bình Dương (nay là 449/B, tổ 1, ấp 3, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh). (có mặt).
2. Bà Phan Thị G, sinh năm: 1955. Địa chỉ: Số 1366, tổ 39, ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai (nay là số 1366, tổ 39, ấp T, xã D, tỉnh Đồng Nai). (có mặt).
3. Ông Phan Văn B, sinh năm: 1956. Địa chỉ: Khu phố L, thị trấn D, huyện T, tỉnh Đồng Nai (nay là Khu phố L, xã D, tỉnh Đồng Nai) (có mặt).
4. Bà Phan Thị H, sinh năm: 1964. Địa chỉ: Số 270, tổ 7, ấp P, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai (nay là số 270, tổ 7, ấp P, xã D, tỉnh Đồng Nai). (có mặt).
5. Bà Phan Thị L (Vũ), sinh năm: 1967. Địa chỉ: 365, tổ 39, ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai (nay là 365, tổ 39, ấp T, xã Bàu Hàm, tỉnh Đồng Nai). (có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà G, bà H, bà L: Ông Phan Văn N, sinh năm: 1953 (Văn bản ủy quyền ngày 21/11/2017)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Trần Thanh T - Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
- Bị đơn:
1. Ông Phan T, sinh năm: 1957 (có mặt)
2. Bà Lê Thị Mỹ Ph, sinh năm: 1958 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: 1367, tổ 39, ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai (nay là 1367, tổ 39, ấp T, xã D, tỉnh Đồng Nai).
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Ông Sin Thoại K, sinh năm 1973. Địa chỉ: Số 351/13 P, phường 14, quận G, thành phố Hồ Chí Minh (nay là số 351/13 Phạm Văn Chiêu, phường An Hội Tây, Thành phố Hồ Chí Minh) (Văn bản ủy quyền ngày 21/7/2018). (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Bà Võ Thị M, sinh năm: 1927 (đã chết).
2. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Nai. Địa chỉ: Đường Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng: Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Tuấn Anh - Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đồng Nai.
3. Bà Phan Thị Q (Út), sinh năm: 1965. Địa chỉ: Tổ 35, ấp T, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai (nay là tổ 35, ấp T, xã D, tỉnh Đồng Nai).
4. Bà Phan Thị Kiều O, sinh năm 1981. Địa chỉ: Số 179 T, phường 10, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là số 179 T, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh).
5. Ông Nguyễn Xuân T, sinh năm 1977;
6. Bà Võ Thị Hồng G, sinh năm 1983;
Cùng địa chỉ: 266C/6, tổ 6, Khu phố L, thị trấn D, huyện T, tỉnh Đồng Nai (nay là 266C/6, tổ 6, Khu phố L, xã D, tỉnh Đồng Nai).
7. Bà Lê Thị Thùy D, sinh năm 1971;
8. Ông Lê S, sinh năm 1968;
Cùng địa chỉ thường trú: 142/2 Khu phố L, thị trấn Dầu G, huyện T, tỉnh Đồng Nai (nay là 142/2 Khu phố L, xã D, tỉnh Đồng Nai).
9. Ông Nguyễn Th, sinh năm 1958;
10. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1963;
Cùng địa chỉ: Khu phố 6, ấp 3, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai (nay là Khu phố 6, ấp 3, xã P, tỉnh Đồng Nai).
11. Bà Nguyễn Thị Tú Tr, sinh năm 1993. Địa chỉ: Khu phố T, Bàu Hàm 2, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (nay là Khu phố T, xã D, tỉnh Đồng Nai).
12. Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1976;
13. Bà Đinh Thị H, sinh năm 1977;
Cùng địa chỉ: Tổ 11, Khu phố L, thị trấn D, huyện T, tỉnh Đồng Nai (nay là Tổ 11, Khu phố L, xã D, tỉnh Đồng Nai).
14. Ông Nguyễn Tuấn Ứ, sinh năm 1971;
15. Bà Trần Thị Thu H, sinh năm 1973;
Cùng địa chỉ: Tổ 11, Khu phố L, thị trấn D, huyện T, tỉnh Đồng Nai (nay là Tổ 11, Khu phố L, xã D, tỉnh Đồng Nai).
16. Bà Lâm Thị L, sinh năm 1959. Địa chỉ thường trú: Tổ 11, Khu phố L, thị trấn D, huyện T, tỉnh Đồng Nai (nay là Tổ 11, Khu phố L, xã D, tỉnh Đồng Nai).
17. Ông Lê Hồng C, sinh năm 1972. Địa chỉ: Tổ 11, Khu phố L, thị trấn D, huyện T, tỉnh Đồng Nai (nay là Tổ 11, Khu phố L, xã D, tỉnh Đồng Nai).
18. Ông Nguyễn Xuân H, sinh năm 1984;
19. Bà Tạ Thị Kim L, sinh năm 1982;
Cùng địa chỉ: Tổ 11, Khu phố L, thị trấn D, huyện T, tỉnh Đồng Nai (nay là Tổ 11, Khu phố L, xã D, tỉnh Đồng Nai).
(Các người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan xin vắng mặt)
- Người kháng cáo: các nguyên đơn ông Phan Văn N, bà Phan Thị G, ông Phan Văn B, bà Phan Thị H, bà Phan Thị L (Vũ).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn ông Phan Văn N, ông Phan Văn B, bà Phan Thị G, bà Phan Thị H, bà Phan Thị L đồng thống nhát ý kiến trình bày:
Nguồn gốc đất của gia đình các ông, bà tự khai phá trước năm 1975, gồm có 8.568m2, đất nông nghiệp, tọa lạc tại ấp L, xã X, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Trên đất trồng cây điều do cha mẹ các ông, bà sinh sống. Năm 2005 cha chết để lại cho mẹ hưởng tuổi già. Đến năm 2010, vợ chồng Phan T lợi dụng mẹ tuổi già, giấu anh, chị, em trong gia đình làm một tờ giấy giả chữ ký của ông chủ tịch rằng cha mẹ cho Phan T đất năm 1981. Thời điểm năm 1981 Phan T làm trưởng công an xã X, đem những tờ giấy trắng có đóng mộc của ủy ban xã rất nhiều, khi đi đăng ký làm chủ quyền đất ông Phan T nộp cái giấy đó cho Phòng Tài nguyên huyện T là nguồn gốc đất cha, mẹ cho Phan T năm 1981. Đến ngày 30/6/2010 thì được Phòng Tài nguyên huyện T cấp giấy quyền sử dụng đất cho Phan T và vợ Lê Thị Mỹ Ph đứng tên, thuộc thửa 1255, tờ bản đồ số 6, rồi vợ chồng Phan T phân lô ra bán, thì anh, chị, em các ông mới biết là Phan T đã tự ý làm sổ đỏ vợ chồng đứng tên. Các ông, bà có đến nhà và nói với hai vợ chồng: đất này khi cha mẹ còn sống cha nói không được bán, để cho con cháu sau này, vợ chồng Phan T nói đất này ông đã đứng tên, ông có quyền, và đuổi các ông về, và thách thức đi thưa kiện.
Ngày 6/7/2011, các ông, bà làm đơn lên Ủy ban nhân dân xã X, Ủy ban xã hòa giải nhưng không có kết quả. Đến ngày 8/8/2011, Ủy ban xã chuyển lên Tòa án huyện, và các ông, bà đã làm tường trình, xin chia thừa kế theo pháp luật. Tòa án cũng đã ra đo đạc theo yêu cầu của các ông, bà. Đến ngày 25/9/2014, Tòa án huyện xét xử sơ thẩm bác đơn khởi kiện của các ông, cho là Phan T và Lê Thị Mỹ Ph đã có sổ đỏ là đúng, trên phiên tòa các ông, bà đã phản kháng, giấy nguồn gốc đất cha mẹ cho là giấy giả nhưng không chấp nhận. Vì vậy các ông, bà làm đơn kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai. Tại Bản án phúc thẩm số 27/2015/DSPT ngày 10/3/2015 Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các ông, bà. Đến tháng 3/2015 các ông, bà làm đơn đề nghị giám đốc thẩm lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh. Đến khi có quyết định chấp nhận kháng nghị số 55/2017/KNDS ngày 8/3/2017 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, ông Phan T có ý đồ tẩu tán, phi tang tài sản thừa kế của các ông, bà, từ một cuốn sổ đã làm ra ba cuốn sổ đỏ, do ông Phan T và bà Lê Thị Mỹ Ph đứng tên. Đất chung của cha mẹ mà ông Phan T làm giấy tờ giả cha mẹ cho con đất, giả chữ ký của chủ tịch Phan Văn A để làm sổ đỏ Phan T và Lê Thị Mỹ Ph đứng tên. Vào thời điểm năm 1981 của Tổng cục quản lý ruộng đất không cho phép mua, bán, tặng, cho, thì ông chủ tịch xã nào dám ký vào giấy cha mẹ cho con đất, nên giấy đó không hợp pháp. Theo nhận định của Tòa án cấp cao, đến năm 1993 thì mới có luật đất đai, nên những số đỏ mà ông Phan T và bà Lê Thị Mỹ Ph đứng tên cũng không hợp pháp.
Nay các ông, bà yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai: Phân chia di sản thừa kế theo pháp luật đối với di sản thừa kế do cụ Phan Văn D để lại là diện tích 4.284m² (trong tổng diện tích 8.568m²) thuộc thửa 1255, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại xã X, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Cụ thể:
+ Ông Nh, bà G yêu cầu nhận chung kỷ phần thừa kế là diện tích đất 990m² (trong đó có 126m² đất nằm trong hành lang đường sắt) thuộc thửa 1255, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại xã X, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
+ Ông B, bà H yêu cầu nhận chung kỳ phần thừa kế là diện tích đất 935m² (trong đó có 131m² đất nằm trong hành lang đường sắt) thuộc thửa 1255, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại xã X, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
+ Bà Q, bà L yêu cầu nhận chung kỷ phần thừa kế là diện tích đất 880m² (trong đó có 136m² đất nằm trong hành lang đường sắt) thuộc thửa 1255, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại xã X, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
+ Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 529913, CI 529914 và CI 529915 do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Đồng Nai cấp cho ông Phan Văn T và bà Lê Thị Mỹ Ph ngày 23/6/2017.
Bị đơn ông Phan T và bà Lê Thị Mỹ Ph thống nhất ý kiến trình bày:
Cha, mẹ ông là cụ Phan Văn D và cụ Võ Thị M chung sống, sinh được 07 người con gồm: Phan Văn N sinh năm 1953, Phan Thị G sinh năm 1955, Phan Văn B sinh năm 1956, Phan T sinh năm: 1957, Phan Thị H sinh năm 1964, Phan Thị Q sinh năm 1965 và Phan Thị L sinh năm 1967; (cụ D và cụ M không có con riêng hay con nuôi). Năm 2005, cụ ông Phan Văn D chết không để lại di chúc.
Tài sản của cụ D và cụ M có được trong thời kỳ hôn nhân gồm nhiều phần tài sản nhưng các cụ đã định đoạt hết trước đây trong thời gian cụ D còn sống. Đối với phần đất đang tranh chấp có nguồn gốc từ cha mẹ ông khai phá trước năm 1975 diện tích khoảng 8.000m2 đất cặp theo hành lang đường sắt gần ga Dầu Giây do cha mẹ ông canh tác trồng mít. Ông sống cùng cha mẹ từ khi sinh ra lớn lên lập gia đình, ở chung phụng dưỡng mẹ cha và cùng sản xuất diện tích đất nói trên. Các nguyên đơn cũng là anh chị ruột của ông lần lượt lập gia đình và ở riêng. Khi họ lập gia đình cha, mẹ ông đều cho nhà và đất để ra ở riêng.
Năm 1980, ông cưới vợ là bà Lê Thị Mỹ Ph, về ở chung với ông và cụ D, cụ M để cùng giúp phụng dưỡng mẹ, cha. Ngày 18/04/1981, cụ D và cụ M làm giấy để lại cho vợ chồng ông diện tích đất nói trên, được UBND xã X, huyện X (cũ) xác nhận. Năm 2010, có đợt đăng ký kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên ông T đã đi đăng ký kê khai. Ngày 20/06/2010 thì được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: BB 465181 cho ông Phan T và bà Lê Thị Mỹ Ph đứng tên, diện tích đất được đo đạc lại và cấp giấy là 8.568m2, (trong đó diện tích 4.223m2) là đất hành lang an toàn đường sắt không được cấp quyền sử dụng và diện tích 4.345m2 đất nằm trong chỉ giới qui hoạch cây xanh của UBND tỉnh Đồng Nai) thuộc thửa 1255, tờ bản đồ số 06, xã X, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Sau khi được cha mẹ cho đất, vợ chồng ông đã phá bỏ cây mít, để trồng lại cây điều. Đến năm 1996 do cây điều già cỗi năng suất thấp, ông tiếp tục phá bỏ để trồng lại cây cà phê, chôm chôm, sầu riêng, dâu và xây nhà ở đầu tư máy móc, đào giếng để sản xuất nông nghiệp. Đến năm 2010, cây cà phê già cỗi và cây sầu riêng bị bệnh chết nên vợ chồng ông phá bỏ để trồng cây điều cao sản như hiện nay. Từ khi được cha mẹ cho đất đến nay đã được hơn 30 năm, vợ chồng ông vẫn trực tiếp canh tác quản lý sử dụng không ai tranh chấp. Vợ chồng ông đầu tư sản xuất trên đất để nuôi dưỡng cha mẹ già. Đến năm 2004, khi cụ D phát bệnh, vợ chồng ông đã bán khoảng 2.000m2 đất (trong tổng diện tích 8.568m2) để lo thang thuốc cho cụ D. Đến năm 2005, cụ D chết vợ chồng ông đã đứng ra lo tang lễ và xây mộ trong khi các anh chị em không một ai đóng góp.
Đối với quá trình sang nhượng đất cụ thể như sau:
Ngày 30/6/2010 ông được Uỷ ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất số 1255 tờ bản đồ số 6 tọa lạc tại đường sắt ra Dầu Giây, Xuân Thạnh với tổng diện tích 8.568m2, trong đó diện tích được cấp 4.345m2 diện tích không được cấp là 4.223m2. Đến tháng 06/2015 ông làm đơn xin đo đạc tách thành hai thửa đất. Ngày 7/7/2015 Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Nai cấp cho ông hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
1. Thửa đất số 158 tờ bản đồ số 20 diện tích 2.984,5m2 trong đó diện tích được cấp là 2.434m2 diện tích không được cấp là 550,5m2 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS05088. Thửa đất này ông đã làm thủ tục sang nhượng lại cho ông Nguyễn Xuân T và vợ là bà Võ Thị Hồng G theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 1371 quyển số 4.
2. Thửa đất thứ hai là thửa số 159 tờ bản đồ số 20 diện tích 4.266,7m2 trong đó diện tích được cấp là 3.667,4m2 không được cấp là 599,3m² Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS05089 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Nai cấp. Diện tích thửa đất trên ông cùng gia đình đã thỏa thuận chuyển nhượng lại cho cháu Phan Thị Kiều O vào ngày 15/6/2004 có giấy tay thỏa thuận và người làm chứng. Ngày 06/9/2005 vợ chồng ông được sự đồng thuận của cháu Phan Thị Kiều O sang nhượng lại cho bà Lê Thị Thùy D 1.000m2 trong số diện tích 3.667,4m² của cháu Oanh. Tháng 12/2016 ông được sự đồng thuận của cháu Oanh sang nhượng lại cho anh Nguyễn Th và bà Nguyễn Thị T 679,8m2 trong tổng diện tích 3.663,4m2 của cháu Oanh.
Ngày 23/4/2017 ông làm đơn xin tách thửa đất số 159 tờ bản đồ số 20 có diện tích 4.266,7m2 trong đó diện tích được cấp 3.667,4m2, diện tích không được cấp là 599,5m2 do Sở Tài nguyên Môi trường cấp ngày 07/7/2015 tách thành ba thửa đất như sau:
- Thửa số một là thửa 162, tờ bản đồ số 20, có diện tích là 1.255m2 (diện tích được cấp 1.045m2 không được cấp là 210,5m2). Thửa đất này ông chưa sang tên qua cho chị Lê Thị Thùy D. Số giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CS07304 hiện nay chị Dung đang canh tác.
- Thửa số hai: thửa đất số 163, tờ bản đồ số 20, có diện tích 679,8m2 (diện tích được cấp 577,4m2 không được cấp là 102,4m2) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS07303.
- Thửa số ba: thửa 64 tờ bản đồ số 20 diện tích 2331m2 (diện tích được cấp 2.044m2, không được cấp là 286,4m2). Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS07302 cấp ngày 23/6/2017. Trong diện tích này có 480m² đất mà ông đã bán cho chị Th vào tháng 5/1998 hiện nay chị Th đã xây bốn căn nhà và các con đang ở. Có giấy tay bán năm 1998.
Và cùng trên thửa đất này ông cũng đã bán cho một số hộ làm nhà ở như sau:
1. Bán cho chị Trần Thị Thu 350m2 làm hai căn nhà cấp bốn vào năm 2015.
2. Bán cho anh Nguyễn Xuân H 200m2 đã xây một căn nhà cấp bốn vào ngày 10/11/2015.
3. Bán cho anh Nguyễn Văn Đ 250m2 đã xây một căn nhà cấp bốn vào năm 2016.
4. Bán cho chị Nguyễn Thị L 250m² xây một căn nhà cấp bốn năm 2016.
Nay các nguyên đơn khởi kiện xin chia thừa kế quyền sử dụng đất nói trên vợ chồng ông không đồng ý. Vì theo ông, diện tích đất mà các nguyên đơn tranh chấp không còn là di sản thừa kế nên không đồng ý theo yêu cầu của các nguyên đơn.
Ý kiến của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Nai do ông Nguyễn Đình Hà là người đại diện theo ủy quyền trình bày:
1. Quá trình cấp giấy chứng nhận, đăng ký biến động quyền sử dụng đất:
Thửa đất số 1255 tờ bản đồ số 06 diện tích 8.568 m2 đất trồng cây lâu năm xã X được UBND huyện T cấp giấy chứng nhấn số BB 465181 ngày 30/6/2010 cho ông Phan T và bà Lê Thị Mỹ Ph. Ngày 29/6/2015 ông Phan T và bà Lê Thị Mỹ Ph chuyển nhượng 1 phần diện tích tại thửa đất số 1255 tờ bản đồ số 06 (tách ra thửa mới là thửa đất số 158) cho ông Nguyễn Xuân T và bà Võ Thị Hồng G, phần diện tích còn lại được chỉnh lý thành thửa đất số 1255 tờ bản đồ số 06 xã X.
Ông Phan T và bà Lê Thị Mỹ Ph lập thủ tục cấp đổi giấy chứng nhận tại thửa đất số 1255 tờ bản đồ số 06 xã X, được Sở Tài nguyên và Môi trường cấp giấy chứng nhận số CA 805723 ngày 07/7/2015 cho ông Phan T và bà Lê Thị Mỹ Ph tại thửa đất số 159 tờ bản đồ số 20 xã X.
Ngày 04/4/2017, ông Phan T và bà Lê Thị Mỹ Ph lập thủ tục tách thửa tại thửa đất số 159 tờ bản đồ số 20 xã X (tách thành thửa đất số 162, 163, 164 tờ bản đồ số 20 xã X), được Sở Tài nguyên và Môi trường cấp giấy chứng nhận số CI 529915 ngày 23/6/2017 tại thửa đất số 162 tờ bản đồ số 20; CI 529914 ngày 23/6/2017 tại thửa đất số 163 tờ bản đồ số 20; CI 529913 ngày 23/6/2017 tại thửa đất số 164 tờ bản đồ số 20 xã X.
Thửa đất số 163 tờ bản đồ số 20 xã X: Ngày 02/8/2017, ông Phan T và bà Lê Thị Mỹ Ph chuyển nhượng cho ông Nguyễn Th và bà Nguyễn Thị T theo hợp đồng chuyển nhượng số 710, quyển số 01/2017 SCT/HĐ,GD được UBND xã X chứng thực ngày 02/8/2017. Ngày 02/8/2017 ông Nguyễn Th và bà Nguyễn Thị T lập thủ tục đăng ký biến động, được Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh - Chi nhánh Thống Nhất chỉnh lý biến động ngày 26/8/2017.
2. Ý kiến nhận xét:
Trên cơ sở hồ sơ tách thửa, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa 162, 163, 164 tờ bản đồ số 20 xã X, do ông Phan T và bà Lê Thị Phúc lập thủ tục, căn cứ theo quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 5 Quyết định 25/2016/QĐ-UBND ngày 20/4/2016 của UBND tỉnh Đồng Nai, Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh - Chi nhánh Thống Nhất đã thẩm tra trình Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh trình Giám đốc Sở TNMT ký cấp GCNQSDD, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất số CI 529913, CI 529914, CI 529915 ngày 23/6/2017 là đúng trình tự, đúng theo quy định pháp luật đất đai.
3. Kiến nghị:
Như đã nhận định ở trên, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CI 529913, CI 529914, CI 529915 ngày 23/6/2017 do Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường cấp giấy chứng nhận là đúng trình tự, đúng theo quy định pháp luật đất đai. Do đó, việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất chỉ được thực hiện theo Bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị Kiều O trình bày:
Cha của bà là ông T và mẹ là bà Ph. Vào ngày 15/6/2004 cha, mẹ của bà có chuyển nhượng lại cho bà khoảng hơn 2.000m2 đất nông nghiệp, có làm giấy thỏa thuận mua bán và được sự chứng kiến của ông bà nội và có Nguyễn Văn S và ông Lê Trung N làm chứng. Do đất chưa được cấp giấy CNQSD đất nên không làm thủ tục sang tên mà để cho cha mẹ quản lý sử dụng. Năm 2005 bà đồng ý để cha, mẹ chuyển nhượng lại cho bà Lê Thị Thùy D 1.000m2. Đến năm 2010 ông T, bà Ph đăng ký xin cấp giấy CNQSD đất thửa 159 tờ bản đồ số 20 diện tích 4.266,7m2 trong đó diện tích được cấp là 3.667,4m2 không được cấp là 599,3m². Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS05089 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Nai cấp ngày 07/7/2015 (Trong đó có 1.000m2 sang nhượng lại cho bà Lê Thị Thùy D).
Ngày 23/4/2017 cha, mẹ của bà làm đơn xin tách thửa đất số 159 tờ bản đồ số 20, tách thành ba thửa đất như sau:
- Thửa số một là thửa 162 tờ bản đồ số 20 có diện tích là 1.255m2 diện tích được cấp 1.045 m2 không được cấp là 210,5m2. Thửa đất này ông chưa sang tên qua cho chị Lê Thị Thùy D. Số giấy chứng nhận quyền sử dụng đất CS07304 hiện nay chị Dung đang canh tác.
- Thửa số hai: thửa đất số 163 tờ bản đồ số 20 có diện tích 679,8m2 diện tích được cấp 577,4m2 không được cấp là 102,4m2 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS07303. Được sự đồng thuận của bà nên cha, mẹ của bà sang nhượng lại cho anh Nguyễn Th và bà Nguyễn Thị T 679,8m2 trong tổng diện tích 3663,4m2 của bà.
- Thửa số ba: là thửa 164 tờ bản đồ số 20 diện tích 2.331m2 diện tích được cấp 2.044m2, không được cấp là 286,4m2. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS07302 cấp ngày 23/6/2017. Trong diện tích này có 480m² đất mà ông T, bà Ph đã bán cho chị Th vào khoảng tháng 5/1998. Hiện nay chị Th đã xây bốn căn nhà và con các con đang ở. Có giấy tay bán năm 1998.
Hiện nay đất do cha, mẹ của bà quản lý sử dụng, chưa sang tên cho bà. Nay có tranh chấp bà đề nghị bảo vệ quyền lợi cho bà và ông T, bà Ph. Do bà bận công việc nên xin vắng mặt các buổi làm việc, các phiên tòa xét xử của Tòa án.
Tại bản tường trình ghi ngày 12/11/2019 và ngày 29/12/2021 của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Thùy D và ông Lê S trình bày:
Vào ngày 06/9/2005 vợ chồng ông, bà có mua của ông T, bà Ph 1.000m2 nông nghiệp trồng cây lâu năm, tọa lạc tại ấp L, xã X nay là thị trấn D huyện T, tỉnh Đồng Nai. Lúc sang nhượng đất thì đất chưa được cấp giấy CNQSD đất. Đến năm 2015 ông T, bà Ph được cấp giấy CNQSD đất và làm thủ tục tách thửa sang tên cho vợ chồng ông, bà thì xảy ra tranh chấp thừa kế nên chưa sang tên được kéo dài đến nay. Hiện nay đất do vợ chồng ông, bà quản lý sử dụng. Nay có tranh chấp ông, bà đề nghị bảo vệ quyền lợi cho ông, bà. Do bận công việc nên xin vắng mặt các buổi làm việc, các phiên tòa xét xử của Tòa án.
Tại bản tường trình ghi ngày 29/12/2021 của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T và ông Nguyễn Th trình bày:
Vào năm 2017 vợ chồng ông, bà có mua của ông T, bà Ph diện tích đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, tọa lạc tại ấp L xã X nay là thị trấn D huyện T, tỉnh Đồng Nai. Lúc sang nhượng đất thì đất có giấy CNQSD đất do ông T, bà Ph đứng tên, có công chứng tại UBND xã X, số chứng thực 710 Quyển số 1 – 2017, thửa đất 163, tờ bản đồ số 20 xã X. Ngày 26/8/2017 Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đồng Nai Chi nhánh Thống nhất ký xác nhận nội dung thay đổi và cơ sở pháp lý vào giấy CNQSD đất số CS 07303 do Sở Tài nguyên và Môi trường cấp ngày 23/6/2017 cho vợ chồng ông, bà. Việc chuyển nhượng đất của ông, bà là hợp pháp. Hiện nay đất do vợ chồng ông, bà quản lý sử dụng canh tác, sản xuất, xây dựng hàng rào chuồng trại để chăn nuôi. Nay ông, bà tường trình sự việc trên, ông, bà xin vắng mặt các buổi làm việc, các phiên tòa xét xử của Tòa án.
Tại bản tường trình ghi ngày 30/12/2021 của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Võ Thị Hồng G và ông Nguyễn Xuân T trình bày:
Vào năm 2015 vợ chồng ông, bà có sang nhượng của ông T, bà Ph diện tích đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, tọa lạc tại tổ 11, Khu phố L. thị trấn D huyện T, tỉnh Đồng Nai. Ông T, bà Ph đứng tên giấy CNQSD đất do UBND huyện T cấp và thực hiện thủ tục sang nhượng tại phòng công chứng Kiệm Tân số công chứng 1371 Quyển số 4.
Đến ngày 07/7/2015 ông, bà được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Nai cấp giấy CNQSD đất số CS 05058, thửa đất 158, tờ bản đồ số 20 có tổng diện tích 2.984,5 m2 trong đó diện tích được cấp 2.434 m2, không được cấp là 550,5m2.
Năm 2016 ông, bà xin do đạc để tách thửa thành 2 thửa đất gồm:
- Thửa thứ nhất: Thửa 160 tờ bản đồ số 20 có diện tích 2.374,7m2 diện tích được cấp 1.934m2, không được cấp là 440,7m2 số giấy CNQSD đất CS 06379 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Nai cấp ngày 08/6/2016.
- Thửa thứ hai: Thửa 161 tờ bản đồ số 20 có diện tích 609,8m2 diện tích được cấp 500m2, không được cấp là 109,8m2 số giấy CNQSD đất CS 06380 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Nai cấp ngày 08/6/2016.
Vợ chồng ông, bà quản lý canh tác, xây dựng tường rào từ đó đến nay. Việc ông, bà sang nhượng diện tích đất nêu trên là đúng quy định của pháp luật. Kính mong quý Tòa xem xét bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông, bà. Đồng thời xin quý Tòa cho phép được vắng mặt trong các phiên tòa xét xử vụ tranh chấp đất đai của gia đình ông T, bà Ph.
Tại bản tường trình ghi ngày 01/01/2022 của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Tạ Thị Kim Liên và ông Nguyễn Xuân Hùng trình bày:
Vào năm 2015 vợ chồng ông, bà có sang nhượng của ông T, bà Ph diện tích đất 200m2 để xây nhà ở, tọa lạc tại tổ 11, Khu phố L. thị trấn D huyện T, tỉnh Đồng Nai. Đất do ông T, bà Ph đứng tên giấy CNQSD đất số CS 05089 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Nai cấp ngày 07/7/2015. Diện tích đất ông, bà mua là 200m2 và cất một căn nhà cấp 4 ở ổn định từ đó đến nay. Việc ông, bà sang nhượng diện tích đất nêu trên là đúng quy định của pháp luật. Kính mong quý Tòa xem xét bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông, bà. Đồng thời xin quý Tòa cho phép được vắng mặt trong các phiên tòa xét xử vụ tranh chấp đất đai của gia đình ông T, bà Ph.
Tại bản tường trình ghi ngày 11/11/2019 và ngày 30/12/2021 của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Đinh Thị Hà và ông Nguyễn Văn Đoàn trình bày:
Vào năm 2016 vợ chồng ông, bà có sang nhượng của ông T, bà Ph diện tích đất 150m2 để xây nhà ở, tọa lạc tại tổ 11, Khu phố L, thị trấn D huyện T, tỉnh Đồng Nai. Đất do ông T, bà Ph đứng tên giấy CNQSD đất ông, bà đã cất một căn nhà cấp 4 ở ổn định từ đó đến nay. Việc ông, bà sang nhượng diện tích đất nêu trên là đúng quy định của pháp luật. Kính mong quý Tòa xem xét bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông, bà. Đồng thời xin quý Tòa cho phép được vắng mặt trong các phiên tòa xét xử vụ tranh chấp đất đai của gia đình ông T, bà Ph.
Tại bản tường trình ghi ngày 30/12/2021 của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Lâm Thị Liễng trình bày:
Vào năm 2015 bà có sang nhượng của ông T, bà Ph diện tích đất 200m2 để xây nhà ở, tọa lạc tại tổ 11, Khu phố L. thị trấn D huyện T, tỉnh Đồng Nai. Đất do ông T, bà Ph đứng tên giấy CNQSD đất số CS 05089 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Nai cấp ngày 07/7/2015 bà đã cất một căn nhà cấp 4 ở ổn định từ đó đến nay. Việc bà sang nhượng diện tích đất nêu trên là đúng quy định của pháp luật. Kính mong quý Tòa xem xét bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà. Đồng thời xin quý Tòa cho phép được vắng mặt trong các phiên tòa xét xử vụ tranh chấp đất đai của gia đình ông T, bà Ph.
Tại bản tường trình ghi ngày 11/11/2019 và ngày 01/01/2022 của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Thu H và ông Nguyễn Tuấn Ư trình bày:
Vào năm 2014 vợ chồng ông, bà có sang nhượng của ông T, bà Ph diện tích đất 350m2 để xây nhà ở, tọa lạc tại tổ 11, Khu phố L, thị trấn D huyện T, tỉnh Đồng Nai. Đất do ông T, bà Ph đứng tên giấy CNQSD đất ông, bà đã cất một căn nhà cấp 4 ở ổn định từ đó đến nay. Đến năm 2019 ông, bà có bán cho ông Lê Hồng Ch 175m2 và ông Ch đã xây nhà ở đến nay. Việc mua bán đất chưa làm thủ tục sang tên, đất do ông T, bà Ph vẫn còn đứng tên. Việc ông, bà sang nhượng diện tích đất nêu trên là đúng quy định của pháp luật. Kính mong quý Tòa xem xét bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông, bà. Đồng thời xin quý Tòa cho phép được vắng mặt trong các phiên tòa xét xử vụ tranh chấp đất đai của gia đình ông T, bà Ph.
Tại bản tường trình ghi ngày 02/01/2022 của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Lê Hồng Ch trình bày:
Vào năm 2019 ông có sang nhượng của bà Trần Thị Thu H và ông Nguyễn Tuấn Ứ diện tích đất 175m2 để xây nhà ở, tọa lạc tại tổ 11, Khu phố L, thị trấn D huyện T, tỉnh Đồng Nai. Phần đất trên do ông T, bà Ph đứng tên giấy CNQSD đất, ông đã cất một căn nhà cấp 4 ở ổn định từ đó đến nay. Kính mong quý Tòa xem xét bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông. Đồng thời xin quý Tòa cho phép được vắng mặt trong các phiên tòa xét xử vụ tranh chấp đất đai của gia đình ông T, bà Ph.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 27/2024/DS-ST ngày 06 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân tỉnh Đồng Nai, đã quyết định:
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn ông Phan Văn N, bà Phan Thị G, ông Phan Văn B, bà Phan Thị H và bà Phan Thị L (Vũ) về việc “Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Q về việc “Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 09/8/2024, nguyên đơn là ông Phan Văn N, bà Phan Thị Gi, ông Phan Văn B, bà Phan Thị H, bà Phan Thị L (Vũ) làm đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Ông Phan Văn N, bà Phan Thị Gi, ông Phan Văn B, bà Phan Thị H, bà Phan Thị L (Vũ) giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hủy bản án sơ thẩm.
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn tranh luận: Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ các yêu cầu kháng cáo của các nguyên đơn, hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 27/2024/DS-ST ngày 06/8/2024 của TAND tỉnh Đồng Nai vì có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng khi xác định sai tư cách người tham gia tố tụng, bỏ sót người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; chưa xem xét đến việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phù hợp với quy định; đình chỉ đối với yêu cầu khởi kiện của bà Q là không đúng quy định. Ngoài ra cụ M mất năm 2021 nhưng không xác định người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cụ M. Đồng thời khi giải quyết lại vụ án Tòa sơ thẩm đã không thực hiện việc xác minh, thu thập chứng cứ là các chữ ký của ông Ai khi còn đương chức chủ tịch Ủy ban nhân dân xã X vào năm 1981 để làm căn cứ so sánh, đối chiếu với chữ ký trong tờ “Giấy cho con đất nông nghiệp” có phải của ông Ai hay không. Phán quyết của tòa sơ thẩm đi ngược lại Quyết định giám đốc thẩm của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận đơn kháng cáo của các nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
- Về tố tụng: Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật; những người tham gia tố tụng chấp hành đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về nội dung: Về nguồn gốc diện tích đất tranh chấp, các đương sự trong vụ án thống nhất đất có nguồn gốc là của cụ D và cụ M khai phá trước năm 1975. Quá trình sử dụng đất, cụ D và cụ M sử dụng diện tích đất đến năm 1981 thì làm giấy tay cho ông T, bà Ph diện tích đất tranh chấp và được Ủy ban nhân dân xã xác nhận. Ông T, bà Ph trực tiếp quản lý sử dụng đối với diện tích trên đến năm 2010 thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Các nguyên đơn cho rằng đây là tài sản của cụ D chưa được chia thừa kế. Tuy nhiên, vào năm 1981 cụ D và cụ M đã làm giấy tay cho ông T, bà Ph. Năm 2004, ông T, bà Ph bán một phần diện tích đất cho bà Phan Thị Kiều O, ông Diếm và bà Một cũng có điểm chỉ vào “Giấy thỏa thuận mua bán đất” thể hiện việc đã cho diện tích đất trên cho vợ chồng ông T, bà Ph năm 1981. Công văn số 41/UBND-TNMT ngày 08/01/2014 và Công văn số 598/UBND-TNMT ngày 18/4/2013 đều cho rằng việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T, bà Ph là đúng theo trình tự, thủ tục quy định pháp luật. Ông T, bà Ph cũng là người trực tiếp canh tác liên tục từ năm 1981 đến nay, có kê khai đăng ký quyền sử dụng đất. Do đó ngày 20/06/2010 UBND huyện T, tỉnh Đồng Nai (cũ) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: BB 465181 là đúng quy định tại điểm c khoản 1 Điều 50 Luật Đất đai năm 2003. Các nguyên đơn đề nghị chia thừa kế đối với diện tích đất tranh chấp và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông T, bà Ph là không có căn cứ chấp nhận.
Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ông Phan Văn N, bà Phan Thị G, ông Phan Văn B, bà Phan Thị H và bà Phan Thị L (Vũ), giữ nguyên bản án dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận; sau khi nghe ý kiến của Kiểm sát viên; sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận thấy :
Về tố tụng:
Đơn kháng cáo của các ông Phan Văn N, bà Phan Thị G, ông Phan Văn B, bà Phan Thị H, bà Phan Thị L (Vũ) đúng về hình thức, nội dung và được nộp trong thời hạn luật định nên là kháng cáo hợp lệ.
Về quan hệ pháp luật, thời hiệu và thẩm quyền thụ lý giải quyết:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chia thừa kế và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vụ án còn thời hiệu khởi kiện nên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai thụ lý, giải quyết và xác định đây là vụ án “Tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” là đúng quy định tại khoản 5, khoản 9 Điều 26; khoản 1, 4 Điều 34; điểm a khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015 và khoản 4 Điều 32 của Luật Tố hành chính năm 2015.
Về sự vắng mặt của những người tham gia tham gia tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, trong đó có một số đương sự có đơn xin vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt những người nêu trên.
Về nội dung:
Cụ Phan Văn D và cụ Võ Thị M là vợ chồng và là cha, mẹ của các nguyên đơn và bị đơn. Cụ D và cụ M có 07 người con gồm: ông Phan Văn N, bà Phan Thị G, ông Phan Văn B, Phan T, bà Phan Thị H, bà Phan Thị Q và bà Phan Thị L. Cụ D chết ngày 28/11/2005, cụ M chết 08/9/2021 và không để lại di chúc. Sinh thời các cụ tạo lập được khối tài sản khoảng 8.568m2 thuộc thửa đất số 1255 tờ bản đồ số 06, đất trồng cây lâu năm tại xã X, huyện T, tỉnh Đồng Nai (cũ) – nay là xã D, tỉnh Đồng Nai (sau đây được ghi tắt theo địa chỉ cũ).
Theo chỉ dẫn của các đương sự thì tại trích lục và đo hiện trạng thửa đất bản đồ địa chính số 2753/2023 ngày 10/10/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đồng Nai đã xác định phần đất tranh chấp thuộc thửa 160, 161, 162, 163, 411, 412, 413 tờ bản đồ số 20 thị trấn D, huyện T, tỉnh Đồng Nai được giới hạn bởi các điểm (1,2,3…,15,16,25,1) có diện tích 6.757.2m2.
Các đương sự đồng ý với Chứng thư thẩm định giá số 5257/CT-ĐNI ngày 11/12/2023 của Công ty cổ phần thẩm định giá Đồng Nai và trích lục và đo hiện trạng thửa đất bản đồ địa chính số 2753/2023 ngày 10/10/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đồng Nai.
Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết:
+ Phân chia di sản thừa kế theo pháp luật đối với di sản thừa kế do cụ Phan Văn D để lại là diện tích 4.284m² (trong tổng diện tích 8.568m²) thuộc thửa 1255, tờ bản đồ số 6, tọa lạc tại xã X, huyện T, tỉnh Đồng Nai nay là thị trấn D.
+ Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 529913, CI 529914 và CI 529915 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Nai cấp cho ông Phan Văn Toàn và bà Lê Thị Mỹ Ph ngày 23/6/2017.
Ngày 06/8/2024 Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Xét yêu cầu kháng cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Đối với yêu cầu chia thừa kế:
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bên đương sự thừa nhận phần đất đang tranh chấp có nguồn gốc từ cụ D, cụ M khai phá trước năm 1975. Các nguyên đơn cho rằng năm 1981 ông Phan T giả mạo hồ sơ với nội dung cụ D, cụ M cho ông Phan T đất. Tuy nhiên ông Phan T không thừa nhận mà cho rằng ông được cha mẹ cho đất từ năm 1980, nhưng đến ngày 18/04/1981 cụ D và cụ M mới làm giấy để lại diện tích đất nói trên cho ông T, bà Ph và được UBND xã X, huyện X xác nhận. Năm 2010, khi có đợt đăng ký kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên ông T đã đi đăng ký kê khai. Ngày 20/06/2010, thì được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 465181 cho ông Phan T và bà Lê Thị Mỹ Ph đứng tên, diện tích đất được đo đạc lại và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 8.568m2 (trong đó diện tích 4.223 m2 là đất hành lang an toàn đường sắt không được cấp quyền sử dụng) và diện tích 4.345 m2 đất nằm trong chỉ giới qui hoạch cây xanh của UBND tỉnh Đồng Nai thuộc thửa 1255, tờ bản đồ số 06, xã X, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Đến tháng 06/2015, ông T, bà Ph làm đơn xin đo đạc tách thành hai thửa đất. Ngày 7/7/2015, Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Nai cấp cho ông T bà Ph hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, gồm:
+ Thửa đất số 158 tờ bản đồ số 20 diện tích 2.984,5m2 trong đó diện tích được cấp là 2.434m2 (diện tích không được cấp là 550,5m2) thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS05088. Thửa đất này ông T đã làm thủ tục sang nhượng lại cho ông Nguyễn Xuân T và vợ là bà Võ Thị Hồng G theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 1371, quyển số 4.
+ Thửa đất thứ hai là thửa số 159 tờ bản đồ số 20 diện tích 4.266,7m2 trong đó diện tích được cấp là 3.667,4m2 (không được cấp là 599,3m²) thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS05089 do Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Nai cấp.
Diện tích thửa đất trên ông cùng gia đình đã thỏa thuận chuyển nhượng lại cho chị Phan Thị Kiều O vào ngày 15/6/2004 có giấy tay thỏa thuận và người làm chứng. Ngày 06/9/2005, vợ chồng ông T được sự đồng thuận của chị Phan Thị Kiều O sang nhượng lại cho bà Lê Thị Thùy D 1.000m2 trong số diện tích 3.667,4m² của chị Oanh. Tháng 12/2016, ông T được sự đồng thuận của chị Oanh sang nhượng lại cho ông Nguyễn Th và bà Nguyễn Thị T 679,8m2 trong tổng diện tích 3.663,4m2 của chị Oanh.
Ngày 23/4/2017, ông T làm đơn xin tách thửa đất số 159 tờ bản đồ số 20 có diện tích 4.266,7m2 trong đó diện tích được cấp 3.667,4m2 (diện tích không được cấp là 599,5m2 ) do Sở Tài nguyên Môi trường cấp ngày 07/7/2015 tách thành ba thửa đất như sau:
+ Thửa số một: thửa 162, tờ bản đồ số 20 có diện tích là 1.255m2 diện tích được cấp 1045 m2 (không được cấp là 210,5m2). Thửa đất này ông chưa sang tên qua cho chị Lê Thị Thùy D, hiện nay chị Dung đang canh tác.
+ Thửa số hai: thửa đất số 163, tờ bản đồ số 20 có diện tích 679,8 m2 diện tích được cấp 577,4 m2 (không được cấp là 102,4 m2) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS07303.
+ Thửa số ba: thửa 164 tờ bản đồ số 20 diện tích 2.331m2 diện tích được cấp 2.044 m2 (không được cấp là 286,4m2) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS07302 cấp ngày 23/6/2017. Trong diện tích này có 480m² đất mà ông T đã bán cho chị Th vào tháng 5/1998 hiện nay chị Th đã xây bốn căn nhà và con các con đang ở.
Cũng trên thửa đất này ông T đã bán cho một số hộ làm nhà ở gồm:
1. Bán cho chị Trần Thị Thu H 350m2 làm hai căn nhà cấp bốn vào năm 2015.
2. Bán cho anh Nguyễn Xuân H 200m2 đã xây một căn nhà cấp bốn vào ngày 10/11/2015.
3. Bán cho anh Nguyễn Văn Đ 250m2 đã xây một căn nhà cấp bốn vào năm 2016.
4. Bán cho chị Nguyễn Thị L 250m² xây một căn nhà cấp bốn năm 2016.
Xét thấy, các nguyên đơn cho rằng ngày 18/04/1981 ông T đã gian dối làm giả hồ sơ để sau này trên cơ sở đó được cấp GCN QSDĐ. Tuy nhiên căn cứ vào lời trình bày của cụ M thể hiện tại các bút lục 106 -108 và 199, thời điểm mà cụ M còn sống, cụ M xác định cụ D và cụ M chính là người đã ký vào tờ giấy cho đất năm 1981. Đồng thời, cụ D cũng là người điểm chỉ xác nhận trong giấy thỏa thuận mua bán đất của chị O vào ngày 15/6/2004 với nội dung là đã cho vợ chồng ông T và ông T được toàn quyền quyết định. Ngoài ra tại giấy thỏa thuận mua bán đất ngày 15/6/2004 này còn có sự chứng kiến của ông S và ông N thể hiện tại bút lục 134. Ngoài ra, UBND xã X, huyện X xác nhận tại bút lục số 94-96 “ông Phan Văn Ai vào thời điểm trên là Chủ tịch UBND xã đã xác định ông Diếm, bà Một đã giao đất cho ông T, bà Ph sử dụng từ năm 1981”. Như vậy, có căn cứ khẳng định sự việc cha mẹ ông T cho đất là có thật.
Do đó, mặc dù thời điểm năm 1981 pháp luật không cho phép việc tặng cho quyền sử dụng đất. Tuy nhiên ông T, bà Ph tại thời điểm được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là người đang sử dụng đất ổn định, lâu dài từ năm 1980, trên đất có vật kiến trúc và cây trồng. Đồng thời mặc dù khi Luật Đất đai năm 1993 có hiệu lực, cụ D và cụ M không hoàn thiện thủ tục theo quy định cho ông T, bà Ph diện tích đất tranh chấp, nhưng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đều đã thể hiện ý chí của cụ D và cụ M về việc cho đất ông T, bà Ph. Ông T, bà Ph cũng là người trực tiếp canh tác liên tục từ năm 1980 tính đến thời điểm năm 2011 khi các nguyên đơn tranh chấp là 30 năm và có kê khai đăng ký quyền sử dụng đất. Do đó, ngày 20/06/2010 UBND huyện T, tỉnh Đồng Nai (cũ) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T, bà Ph là đúng quy định tại điểm c khoản 1 Điều 50 Luật đất đai năm 2003 quy định:
“1/ Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định, được UBND xã, phường, thị trấn xác nhận không có tranh chấp mà có một trong các loại giấy tờ sau thì được cấp giấy CNQSD đất và không phải nộp tiền sử dụng đất:
…………
c/ Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất...”.
Do đó, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Đối với yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
Như nhận định nêu trên về người có quyền sử dụng đất là vợ chồng ông Phan T. Đồng thời, căn cứ theo quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 5 Quyết định 25/2016/QĐ-UBND ngày 20/4/2016 của UBND tỉnh Đồng Nai thì Sở Tài nguyên và Môi trưởng tỉnh cấp GCNQSDD, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất số CI 529913, CI 529914, CI 529915 ngày 23/6/2017 là đúng trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật đất đai.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm cũng không chấp nhận yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất nêu trên là phù hợp và có căn cứ.
Quan điểm của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các nguyên đơn không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các nguyên đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ nào mới có thể làm thay đổi nội dung sự việc. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận quan điểm đề nghị của đại diện Viện công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm về việc không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các nguyên đơn.
Các phần khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Các nguyên đơn ông Phan Văn N, bà Phan Thị G, ông Phan Văn B và bà Phan Thị H là người cao tuổi có đơn xác nhận hoàn cảnh gia đình khó khăn cho nên áp dụng Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 miễn án phí cho các đương sự nêu trên. Riêng đối với bà Phan Thị L (Vũ) phải chịu theo quy định.
Vì những lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Phan Văn N, bà Phan Thị G, ông Phan Văn B, bà Phan Thị H, bà Phan Thị L (Vũ). Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 27/2024/DS - ST ngày 06 tháng 8 năm 2024 của Toà án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Căn cứ khoản Điều 26; Điều 34; khoản 1 Điều 37; Điều 227; Điều 288; Điều 266; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 7 Luật Đất đai năm 1993, điểm c khoản 1 Điều 50 Luật Đất đai năm 2003 và Điều 100, 203 Luật Đất đai năm 2013;
Căn cứ Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH 12 ngày 27/02/2009 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn ông Phan Văn N, bà Phan Thị G, ông Phan Văn B, bà Phan Thị H và bà Phan Thị L (Vũ) về việc “Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Q về việc “Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
2. Án phí dân sự phúc thẩm: Các nguyên đơn ông Phan Văn N, bà Phan Thị G, ông Phan Văn B và bà Phan Thị H được miễn án phí.
Bà Phan Thị L (Vũ) phải chịu 300.000 đồng được khấu trừ 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0000450 ngày 26/8/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai (nay là Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai).
3. Các phần khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - VCTVKSXXPT tại TP. Hồ Chí Minh; - Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai; - Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Nai; - Các đương sự; - Lưu, MT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thành Long |