vanban.org

Bản án 153

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/5/2019. Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong mang số vụ 1132/2019, có chữ ký niêm phong của Giám định viên và Cán bộ điều tra. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN

C N H A

H I CHỦ N H A VIỆT NA

HUYỆN CỦ CHI

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 153/2019/HSST Ngày: 24/9/2019

NHÂN DANH

NƢỚC C N H A

H I CHỦ N H A VIỆT NA

T A ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ INH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Hương

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phạm Thị Ngọc

Nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí

2. Bà Huỳnh Thị Huế

Nghề nghiệp: Cán bộ

Nơi công tác: Liên đoàn lao động huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thanh Thi, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hiếu - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 9 năm 2019 Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 151/2019/TLST-HS ngày 28 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 139/2019/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn T, sinh năm 1997; giới tính: nam; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Số 28A đường số 21, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ văn hóa: 9/12; nghề nghiệp: Làm thuê: Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị L; anh chị em ruột gồm có 04 người kể cả bị cáo; bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị giam giữ từ ngày 20/5/2019 cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1967 (vắng mặt).

Địa chỉ: Số 28A đường số 21, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

N I DUN VỤ ÁN:

Bị cáo Nguyễn Văn T bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 20/5/2019, Nguyễn Văn T dùng điện thoại di động hiệu OPPO của mình liên lạc với 01 người thanh niên tên Bù (chưa rõ lai lịch) hỏi mua 01 gói ma túy đá với giá 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) nhằm mục đích sử dụng, Bù đồng ý bán và hẹn gặp T tại khu vực đường Ba Sa thuộc xã Phước Hiệp, huyện Củ Chi để giao nhận tiền và ma túy. Sau khi thỏa thuận xong, T điều khiển xe gắn máy mang biển số 62K-1570 đến điểm hẹn thì gặp Bù điều khiển xe gắn máy hiệu Wave màu xanh (không nhớ biển số) đến, T giao tiền và được Bù chỉ cho T gói ma túy được cất giấu trong gói thuốc lá hiệu Jet để gần trụ điện bên lề đường. Sau khi lấy được ma túy, T hẹn gặp các đối tượng Nguyễn Thanh Tú, Đô và Phong (chưa rõ lai lịch) là bạn của Tú đến ấp Hậu, xã Tân Tjông Hội, huyện Củ Chi để cùng sử dụng chất ma túy. Tại đây, T lấy gói ma túy đá cho 01 ít vào bộ dụng cụ cho cả 04 người cùng nhau sử dụng. Sau khi sử dụng ma túy xong, T cất giấu phần ma túy còn lại vào trong cốp xe phía trước bên trái của xe biển số 62K3-1570 rồi điều khiển xe đi về nhà. Đến đoạn đường Trần Văn Chẩm thuộc ấp Hậu, xã Tân Thông Hội, huyện Củ Chi thì bị Công an xã Tân Thông Hội, huyện Củ Chi yêu cầu dừng xe kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện bên trong cốp xe phía trước bên trái của T có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu. Ngay sau đó Công an xã Tân Thông Hội tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang T tàng trữ trái phép chất ma túy.

Kết quả test ma túy, T đương tính với ma túy đá.

Qua giám định của PC09 Công an Thành phố Hồ Chí Minh: 01 gói niêm phong bên ngoài có dấu vân tay, chữ ký ghi tên Nguyễn Văn T và hình dấu Công an xã Tân Thông Hội, huyện Củ Chi bên trong chứa tinh thể không màu (m) là ma túy ở thể rắn có khối lượng 0,3620 gam, loại Methamphetamine.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Nguyễn Văn T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

Vật chứng thu giữ:

- 01 gói nylon bên trong chứa tinh thể rắn không màu, qua giám định là chất ma túy ở thể rắn loại Methamphetamine;

- 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu đen, số Imei 1: 862472038510655, số Imei 2: 862472038510684;

- 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu hồng trắng, số Imei 1: 866977031785639, số Imei 2: 866977031785621;

- Tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 500.000đ (năm trăm nghìn đồng).

Tại bản cáo trạng số: 140/CT-VKS ngày 27/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù.

- Về vật chứng, đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 gói niêm phong mang số vụ 1132/2019, có chữ ký niêm phong của Giám định viên và Cán bộ điều tra, là chất ma túy; trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu đen, số Imei 1: 862472038510655, số Imei 2: 862472038510684 đã qua sử dụng do không liên quan đến việc phạm tội; tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu hồng trắng, số Imei 1: 866977031785639, số Imei 2: 866977031785621 đã qua sử dụng, được bị cáo sử dụng vào việc mua chất ma túy; trả lại cho bị cáo số tiền 500.000đ (năm trăm nghìn đồng). Đối với chiếc xe mang biển số 62K-1570, cơ quan điều tra đã trả lại cho ông Cáo, thấy phù hợp nên không xét.

- Đối với người thanh niên tên Bù bán trái phép chất ma túy cho bị cáo và Nguyễn Thanh Tú, Phong, Đô, cùng sử dụng trái phép chất ma túy với T, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch của các đối tượng trên, cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ xử lý sau, thấy phù hợp nên không xét.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA T A ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án, Điều tra viên, Kiểm sát viên khi thực hiện hành vi cũng như ban hành các quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác phản ánh trong hồ sơ vụ án.

Qua đó có đủ cơ sở xác định:

Ngày 20/5/2019, tại ấp Hậu, xã Tân Thông Hội, huyện Củ Chi, bị cáo Nguyễn Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine, qua giám định có khối lượng 0,3620g.

Với hành vi trên, bị cáo T đã phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, đúng như Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm các quy định của Nhà nước về quản lý dược liệu, dược phẩm độc hại, làm mất trật tự trị an cho xã hội, gây dư luận xấu trong nhân dân, do đó cần xử lý bị cáo bằng một hình phạt nghiêm khắc mới phát huy tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn nhận tội, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Đối với người tên Bù bán trái phép chất ma túy cho bị cáo T và Nguyễn Thanh Tú, Phong, Đô, cùng sử dụng trái phép chất ma túy với bị cáo T, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch của các đối tượng trên, cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xét.

[3] Vật chứng vụ án:

01 gói niêm phong mang số vụ 1132/2019, có chữ ký niêm phong của Giám định viên và Cán bộ điều tra, là chất ma túy, cần tịch thu tiêu hủy.

01 điện thoại di động hiệu OPPO màu đen, số Imei 1: 862472038510655, số Imei 2: 862472038510684 đã qua sử dụng, không liên quan đến việc phạm tội. Tại phiên tòa, bị cáo xin nhận lại điện thoại trên, xét thấy phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

01 điện thoại di động hiệu OPPO màu hồng trắng, số Imei 1: 866977031785639, số Imei 2: 866977031785621 đã qua sử dụng, được bị cáo sử dụng vào việc mua chất ma túy nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 500.000đ (năm trăm nghìn đồng), là tiền riêng của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội. Tại phiên tòa, bị cáo xin nhận lại số tiền trên, xét thấy phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với chiếc xe mang biển số 62K-1570, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Củ Chi đã trả lại cho ông Cáo, thấy phù hợp nên Hội đồng xet xử không xét.

[4] Về án phí:

Xét cần buộc bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/10/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/5/2019.

- Áp dụng điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy: 01 gói niêm phong mang số vụ 1132/2019, có chữ ký niêm phong của Giám định viên và Cán bộ điều tra.

Trả lại cho bị cáo T 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu đen, số Imei 1: 862472038510655, số Imei 2: 862472038510684 đã qua sử dụng.

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu hồng trắng, số Imei 1: 866977031785639, số Imei 2: 866977031785621 đã qua sử dụng.

Trả lại cho bị cáo T số tiền 500.000đ (năm trăm nghìn đồng).

(Theo Phiếu nhập kho vật chứng số: 159/PNK ngày 14 tháng 8 năm 2019 ).

2. Về án phí:

Án phí hình sự sơ thẩm buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

3. Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án.

Cỡ chữ