- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Triệu H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo xin được hưởng án treo và chấp nhận kháng cáo của người bị hại xin cho bị cáo được hưởng án treo.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 153/2025/HS – PT Ngày: 17-9-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thọ
Các Thẩm phán:
Ông Võ Thái Sơn
Ông Bùi Thanh Quốc
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Huỳnh Phương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Lâm Dạ Hằng– Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 147/TLPT-HS ngày 27 tháng 8 năm 2025 đối với bị cáo Triệu H do có kháng cáo của bị cáo và của người bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2025/HS-ST ngày 24/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Cần Thơ.
- Bị cáo có kháng cáo:
Triệu H (tên gọi khác là M), sinh ngày 20/02/1998 tại Sóc Trăng (nay là thành phố Cần Thơ). Nơi cư trú: khóm G, phường V, thành phố Cần Thơ. Giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Khmer; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 12/12; con ông Triệu H1 (sống) và bà Trương Thị Thứ T (sống); Bị cáo có vợ là Thạch Thị Đ và có 02 người con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2023.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại có kháng cáo: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm 1971;
Địa chỉ: Khóm B, phường V, thành phố Cần Thơ (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại: Ông Bạch Quốc T1 và bà Lê Thị Trúc L – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh S (cũ) (vắng mặt tại phiên tòa).
Trong vụ án, còn có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Triệu H là người được đào tạo và cấp giấy phép lái xe hạng C1 theo quy định. Khoảng 15 giờ, ngày 04 tháng 9 năm 2024, bị cáo H điều khiển xe ô tô biển số kiểm soát 83A-097.05 chở bà Lê Thị L1 ngồi ghế phía trước bên phải và bà Bùi Thị Thu Đ1 ngồi hàng ghế thứ hai di chuyển từ xã V, thị xã V (nay là phường K, thành phố Cần Thơ) để về nhà của bà L1 thuộc khóm W, phường V, thị xã V (nay là khóm W, phường V, thành phố Cần Thơ), đi theo hướng từ Tây sang Đ ( tức từ V về hướng phường A nay là phường V). Khi xe ô tô lưu thông trên đường N, do nhà của bà L1 nằm trên đường N ở hướng B, bên trái đường đi theo hướng di chuyển của xe ô tô do bị cáo H điều khiển nên khi đi đến trước số nhà B, đường N thì bị cáo H không chú ý quan sát trước nhưng đã cho xe ô tô chuyển hướng quay đầu ngược lại theo hướng từ Đ1 sang T dẫn đến xảy ra va chạm với xe mô tô biển số 83P4-212.53 do ông Nguyễn Văn K điều khiển lưu thông theo hướng từ Đ1 sang T. Hậu quả, ông K bị chấn thương và được người dân đưa đi Bệnh viện đa khoa tỉnh S cấp cứu và sau đó chuyển đến Bệnh viện Chợ Rẫy Thành phố H tiếp tục điều trị đến ngày 30/9/2024 thì ông K được xuất viện.
Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 10/KLTTCT-TTPYST ngày 31/12/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh S kết luận: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của ông Nguyễn Văn K là 68/% (sáu mươi tám phần trăm).
Kết luận định giá tài sản số 14/KL-HĐĐGTS ngày 27 tháng 02 năm 2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã V, kết luận tổng giá trị các bộ phận hư hỏng của chiếc xe ô tô biển số 83A-097.05 tại thời điểm định giá là 21.527.000đ (hai mươi mốt triệu năm trăm hai mươi bảy nghìn đồng).
Kết luận định giá tài sản số 15/KL-HĐĐGTS ngày 27 tháng 02 năm 2025 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thị xã V, kết luận tổng giá trị các bộ phận hư hỏng của chiếc xe mô tô biển số 83P4-212.53 tại thời điểm định giá là 5.022.000đ (năm triệu không trăm hai mươi hai nghìn đồng).
Tại bản án hình sự số 06/2025/HS-ST ngày 24/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Cần Thơ đã quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Triệu H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Căn cứ: điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: bị cáo Triệu H 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày tự nguyện thi hành án hoặc bắt thi hành án.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 02/8/2025, bị cáo Triệu H và bị hại Nguyễn Văn K có đơn kháng cáo xin cho bị cáo được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, các lý do bị cáo đưa ra là ngoài các tình tiết giảm nhẹ cấp sơ thẩm đã xem xét, bị cáo có cung cấp thêm tại phiên tòa phúc thẩm các tài liệu, chứng cứ mới là các giấy khen của bị cáo đã được Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường A tặng do bị cáo có thành tích xuất sắc trong công tác. Bị cáo là bộ đội xuất ngũ, đang là Chi hội trưởng Hội Cựu chiến binh khóm 7, là đảng viên Đ2 (dự bị). Bị cáo là lao động chính trong gia đình, con của bị cáo còn rất nhỏ.
Người bị hại giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin cho bị cáo được hưởng án treo vì sau khi xảy ra tai nạn, bị cáo đã trực tiếp đưa người bị hại đi cấp cứu qua nhiều bệnh viện, đồng thời đã trực tiếp ở lại chăm sóc cho người bị hại, mọi chi phí phát sinh tại bệnh viện do bị cáo chịu. Hiện nay người bị hại được xuất viện về nhà nhưng bị cáo vẫn thăm hỏi, bồi thường, khắc phục đầy đủ thiệt hại, đưa người bị hại đi tái khám tại các bệnh viện. Bản thân bị cáo là lao động chính, con còn nhỏ, là đảng viên dự bị, tích cực tham gia công tác xã hội tại địa phương. Mặt khác, trước khi tham gia giao thông và bị tại nạn, người bị hại đã uống rượu nên có một phần lỗi.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo và chấp nhận kháng cáo của người bị hại, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giữ nguyên mức hình phạt cấp sơ thẩm đã tuyên nhưng cho bị cáo được hưởng án treo do bị cáo ngoài nhiều tình tiết giảm nhẹ được cấp sơ thẩm xem xét thì tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo cung cấp thêm được các tình tiết giảm nhẹ mới đồng thời phía người bị hại vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đề nghị cho cáo được hưởng án treo.
Bị cáo, người bị hại thống nhất với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến đối đáp.
Lời nói sau cùng của bị cáo, xin Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo. Bị cáo hứa sẽ trở thành người công dân tốt, sống có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Kháng cáo của bị cáo và người bị hại trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm thụ lý, giải quyết theo quy định.
Mặc dù bị cáo, người bị hại đều là người dân tộc thiểu số, tuy nhiên nghe, hiểu và nói được tiếng Việt rõ. Bị cáo, người bị hại không cần người phiên dịch tại phiên tòa nên vụ án được tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp hợp của người bị hại vắng mặt tại phiên tòa, phía người bị hại thống nhất và đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người này. Căn cứ Điều 351 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng và bản án sơ thẩm đã tuyên. Đối chiếu với tài liệu chứng cứ thể hiện trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 15 giờ ngày 04 tháng 9 năm 2024, bị cáo H điều khiển xe ô tô biển số kiểm soát 83A-097.05 chở bà Lê Thị L1 ngồi ghế phía trước bên phải và bà Bùi Thị Thu Đ1 ngồi hàng ghế thứ hai di chuyển từ xã V, thị xã V (nay là phường K, thành phố Cần Thơ) đi về nhà của bà L1 (theo hướng từ tây sang đông). Khi bị cáo H điều khiển xe ô tô đi đến trước nhà số B đường N do không chú ý quan sát trước nhưng cho xe ô tô chuyển hướng quay đầu ngược lại nên đã xảy ra va chạm với xe mô tô biển số 83P4-212.53 do ông Nguyễn Văn K điều khiển lưu thông trên làn đường theo hướng về phường V (theo hướng từ Đ sang T) gây thương tích cho ông K với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 68% (sáu mươi tám phần trăm) là vi phạm Điều 15 Luật giao thông đường bộ măm 2008 (nay thuộc Điều 15 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ nên đủ yếu tố cấu thành tội “vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự. Do đó Tòa án nhân dân khu vực 8 - Cần Thơ xét xử bị cáo bằng Bản án hình sự số 06/2025/HS-ST ngày 24/7/2025 là đúng người, đúng tội.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của người khác. Tại thời điểm phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo biết rất rõ khi tham gia giao thông phải tuân thủ quy định của pháp luật về giao thông để đảm bảo tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác nhưng vì lỗi vô ý do cẩu thả, bị cáo đã thiếu quan sát khi quay đầu xe dẫn đến va chạm vào xe mô tô biển số 83P4-212.53 do ông Nguyễn Văn K điều khiển gây thương tích nặng cho ông K nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi đã gây ra.
Xét thấy bị cáo không có tình tiết tăng nặng, nhân thân của bị cáo tốt, chưa có tiền án tiền sự. Sau khi sự việc xảy ra đã thành khẩn khai báo, thừa nhận hành vi phạm tội của mình; đã tự nguyện bồi thường, tích cực hỗ trợ cho bị hại trong quá trình điều trị thương tích và được bị hại xin bãi nại cho bị cáo; bị cáo là người dân tộc thiểu số đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã được cấp sơ thẩm xem xét áp dụng cho bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo còn cung cấp thêm được các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 điều 51 của Bộ luật hình sự như: Bị cáo được Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường A tặng nhiều giấy khen do bị cáo có thành tích xuất sắc trong công tác. Ngoài ra, bị cáo là bộ đội xuất ngũ, hiện đang là Chi hội trưởng Chi hội Cựu chiến binh và được địa phương xác nhận bị cáo tích cực tham gia các hoạt động Hội và phong trào địa phương, có tinh thần trách nhiệm và uy tín trong cộng đồng. Bị cáo là lao động chính trong gia đình, hai người con của bị cáo còn nhỏ (trong đó có cháu còn rất nhỏ sinh năm 2023).
Bên cạnh đó, về phía người bị hại thời điểm xảy ra tai nạn không có giấy phép lái xe theo quy định và trong máu có nồng độ cồn vượt quá quy định, không chú ý quan sát. Cơ quan Công an đã ra quyết định xử phạt đối với người bị hại. Tại phiên tòa phúc thẩm, người bị hại cũng đã thừa nhận có lỗi nên cần xác định và áp dụng cho bị cáo thêm tình tiết giảm nhẹ có một phần lỗi của người bị hại cho bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Ngoài ra, tại phiên tòa phúc thẩm, người bị hại ông Nguyễn Văn K cũng trình bày sức khỏe hiện tại ông K đã ổn định, sau khi sự việc xảy ra, bị cáo đã hỗ trợ đưa ông K cấp cứu qua nhiều bệnh viện, bị cáo là người trực tiếp chăm sóc cho ông K tại bệnh viện, mọi chi phí điều trị tại bệnh viện do bị cáo đứng ra chi trả. Mặc dù hiện tại ông K đã xuất viện nhưng bị cáo vẫn đến thăm, bồi thường khắc phục đầy đủ cho ông K và đưa ông K đi tái khám, hoàn cảnh của bị cáo khó khăn, bị cáo là lao động chính, con của bị cáo còn rất nhỏ. Vì vậy ông K tha thiết xin cho bị cáo được hưởng án treo.
Từ các căn cứ trên, xét thấy bị cáo Triệu H có đủ điều kiện được hưởng án treo theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 03/VBHN-TANDTC ngày 10/7/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Đồng thời để thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật, khuyến khích việc bồi thường, khắc phục hậu quả sau khi phạm tội, Hội đồng xét xử thống nhất quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, chấp nhận kháng cáo của bị cáo và chấp nhận kháng cáo của người bị hại, sửa bản án sơ thẩm do có thêm tình tiết mới tại phiên tòa phúc thẩm để áp dụng thêm Điều 65 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương đồng thời áp dụng hình phạt bổ sung cấm bị cáo hành nghề lái xe ô tô trong một thời gian nhất định cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo thành công dân tốt và vẫn đảm bảo được tính răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.
Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo không phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo xin được hưởng án treo và chấp nhận kháng cáo của người bị hại xin cho bị cáo được hưởng án treo. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 06/2025/HS – ST ngày 24/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 8 – Cần Thơ.
1. Tuyên bố: bị cáo Triệu H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
2. Căn cứ: điểm b khoản 1, khoản 5 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt: bị cáo Triệu H 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án, ngày 17/9/2025.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường V, thành phố Cần Thơ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự”
“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.
Về hình phạt bổ sung: Cấm bị cáo Triệu H hành nghề lái xe ô tô trong thời hạn 01 (một) năm kể từ ngày tuyên án, ngày 17/9/2025.
3. Về án phí phúc thẩm: Căn cứ Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Triệu H và người bị hại Nguyễn Văn K không phải chịu.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án, ngày 17/9/2025.
| Nơi nhận: - VKSND TP. Cần Thơ; - CQCSĐT TP. Cần Thơ; - TAND, VKSND, Phòng THADS khu vực 8 – Cần Thơ; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thọ |