- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Đắc H, La Thanh C - phạm tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (điều 201 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Khoản 1, khoản 3 Điều 201; Điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ
- Căn cứ chính? Điều 201 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 153/2024/HS-ST |
Ngày: 08 - 8 - 2024
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM
TỈNH NINH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Trần Thanh Thư
Các Hội thẩm nhân dân:
+ Ông Trần Văn Bình
+ Bà Nguyễn Thị Minh Trâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Hoàng Vân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố
Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm
tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Đạo - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 8 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T,
tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 121/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 144/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Vũ Đắc H, sinh năm: 1994 tại Hải Dương.
Nơi cư trú: Thôn V, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Làm thuê;
Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Đắc B (đã chết) và bà Lê Thị H1. Vợ con: chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 23/11/2023, bị Công an huyện N, tỉnh Ninh Thuận xử phạt vi phạm
hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “P tờ rơi quảng cáo cho vay tiền làm ảnh hưởng đến mỹ quan, trật tự an toàn giao thông xã hội”.
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
2. La Thanh C, sinh năm: 2000 tại Thái Nguyên.
Nơi cư trú: Xóm C, xã V, huyện P, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Làm
thuê; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Sán Chay; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông La Văn P1 và bà La Thị T. Vợ con: chưa có.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 23/11/2023, bị Công an huyện N, tỉnh Ninh Thuận xử phạt vi phạm
hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “P tờ rơi quảng cáo cho vay tiền làm ảnh hưởng đến mỹ quan, trật tự an toàn giao thông xã hội”.
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Trần Thị Thu T1, sinh năm 1979; (Vắng mặt).
Nơi cư trú: Khu phố C, phường P, thành phố P-T, tỉnh Ninh Thuận.
+ Bà Nguyễn Thị Xuân T2, sinh năm 1958; (Vắng mặt).
Nơi cư trú: Khu phố C, phường M, thành phố P-T, tỉnh Ninh Thuận.
+ Bà Phan Thị Hồng Đ, sinh năm 1968; (Vắng mặt).
Nơi cư trú: Khu phố B, phường P, thành phố P-T, tỉnh Ninh Thuận.
+ Bà Phạm Thị D, sinh năm 1976; (Vắng mặt).
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã N, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
+ Bà Lê Thị Tuyết H2, sinh năm 1967; (Vắng mặt).
Nơi cư trú: Khu phố B, phường T, thành phố P-T, tỉnh Ninh Thuận.
+ Bà Nguyễn Thị Diễm T3, sinh năm 1979; (Vắng mặt).
Nơi cư trú: Khu phố D, phường B, thành phố P-T, tỉnh Ninh Thuận.
+ Bà Trần Thị H3, sinh năm 1978; (Vắng mặt).
Nơi cư trú: Khu phố H, phường Đ, thành phố P-T, tỉnh Ninh Thuận.
+ Bà Nguyễn Thị Đ1, sinh năm 1971; (Vắng mặt).
Nơi cư trú: Thôn N, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
+ Bà Đào Thị D1, sinh năm 1954; (Vắng mặt).
Nơi cư trú: Khu phố C, phường P, thành phố P-T, tỉnh Ninh Thuận.
+ Bà Trần Thị B1, sinh năm 1971; (đã chết).
Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Trần Thị B1:
+ Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm: 1964- Chồng của bà B1; (Vắng mặt).
+ Bà Nguyễn Thị Ánh T4 - Con của bà B1 (Vắng mặt).
+ Bà Nguyễn Thị Ánh V - Con của bà B1 (Vắng mặt).
+ Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1995 - Con của bà B1; (Vắng mặt).
Cùng nơi cư trú: Khu phố D, phường K, thành phố P-T, tỉnh Ninh Thuận.
+ Bà Hồ Thị Thu V1, sinh năm 1969; (Vắng mặt).
Nơi cư trú: Khu phố E, phường T, thành phố P-T, tỉnh Ninh Thuận.
+ Bà Nguyễn Thị Như D2, sinh năm 1987; (Vắng mặt).
Nơi cư trú: Khu phố F, phường Đ, thành phố P-T, tỉnh Ninh Thuận.
+ Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1965; (Vắng mặt).
Nơi cư trú: Khu phố C, phường P, thành phố P-T, tỉnh Ninh Thuận.
+ Bà Nguyễn Thị Mỹ D3, sinh năm 1985; (Vắng mặt).
Nơi cư trú: Khu phố H, phường V, thành phố P-T, tỉnh Ninh Thuận.
+ Bà Lê Thị Thanh M, sinh năm 1991; (Vắng mặt).
Nơi cư trú: Thôn V, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
+ Bà Nguyễn Cẩm G, sinh năm 1989; (Vắng mặt).
Nơi cư trú: Thôn T, xã Q, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 8/2023 (Không nhớ rõ ngày), Vũ Đắc H rủ La Thanh C vào TP
. - T để cùng nhau cho vay tiền lấy lãi thì C đồng ý, cả hai thuê nhà ở khu phố G, phường V, TP . - T. H và C đã in 1000 tờ quảng cáo cho vay tiền với nội dung “Cho vay trả góp thủ tục đơn giản: Chỉ cần căn cước công dân, giới thiệu có hoa hồng, LH: 0914029094 (Số điện thoại của H) - 0855950628 (Số điện thoại của C)” rải trên các tuyến đường ở địa bàn TP . - T. Khi có người vay tiền thì H hoặc C sẽ đi gặp người vay, số tiền cho vay từ 1.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng, hình thức vay trả góp tính cả gốc và lãi, người vay phải đóng từ 50.000 đồng đến 250.000 đồng/ngày tùy vào số tiền vay, tương đương lãi suất 511% đến 1.387%/năm, gấp 25,55 đến 69,35 lần so với quy định của Bộ luật dân sự. Trong khoảng thời gian từ ngày 03/9/2023 đến ngày 16/11/2023, H và C đã thực hiện hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự đối với 16 người, tổng số tiền cho vay là 138.000.000 đồng, (T5 lợi thực tế số tiền 37.740.000 đồng - Số tiền lãi thu theo quy định của Bộ luật dân sự là 890.411 đồng), thu lợi bất chính 36.849.589 đồng. Cụ thể như sau:
Số ngày
gấp
Số ngày đang phí hồ sơ
Tiền
Thu lợi Thu lợi
(lần)
Số tiền vay
đã góp góp
+ hoa
Thu lợi bất
%
Số tiền gốc STT Họ và tên người vay Ngày vay
góp/ngày
thực tế hợp pháp
mức
(đồng)
(trả nợ (chưa hồng
chính (đồng) lãi/năm
chưa trả nợ
(đồng)
(đồng) (đồng)
lãi cho
xong) trả nợ (đồng)
phép
xong)
Phan Thị Hồng
5.000.000 250.000
650.000 1.900.000 32.877 1.867.123 1.155,83 57,79
0
29/10/2023
12
0
Điểu, SN 1968, trú 1 tại: Kp2, P Phủ Hà,
5.000.000 250.000
600.000 1.200.000 32.877 1.167.123 540,20 27,01 2.600.000
TP PR-TC
09/11/2023
0
12
Nguyễn Thị Xuân
30/10/2023 5.000.000 250.000 16
0 650.000 1.900.000 43.836 1.856.164 866,88 43,34
0 2 Tập, SN 1958, trú
tại: Kp3, P Mỹ Hải,
15/11/2023 5.000.000 250.000 0
5 500.000 750.000 13.699 736.301 511,00 25,55 4.000.000
TP PR-TC
5.000.000 250.000
650.000 1.900.000 27.397 1.872.603 1,387,00 69,35 3 Trần Thị Thu Thùy, 21/10/2023
SN 1979, trú tại :
5.000.000 250.000
500.000 1.750.000 27.397 1.722.603 1.277,50 63,88
31/10/2023
Kp3, P Phủ Hà, TP
PR-TC
5.000.000 250.000
500.000 800.000 16.438 783.562 511,00 25,55 3.800.000
10/11/2023
0
6
Phạm Thị Diệu
06/10/2023 5.000.000 250.000 18
0 650.000 1.900.000 49.315 1.850.685 770,56 38,53
0
(Xương), SN 1979, 4 trú tại: Đắc Nhơn 3, 24/10/2023 5.000.000 250.000 13
0 500.000 1.750.000 35.616 1.714.384 982,69 49,13
0
Nhơn Sơn, huyện
06/11/2023 5.000.000 250.000 0
15 500.000 1.250.000 41.096 1.208.904 511,00 25,55 2.000.000
Ninh Sơn
Lê Thị Tuyết Hoa,
SN 1967, trú tại:
26/10/2023 5.000.000 250.000 0
23 650.000 1.800.000 63.014 1.736.986 554,80 27,74 400.000
Kp3, P Mỹ Đông, 5
TP PR-TC
Nguyễn Thị Diễm 25/10/2023 5.000.000 250.000 14
0 650.000 1.900.000 38.356 1.861.644 990,71 49,54
0
Thúy, SN 1979, trú 6
05/11/2023 3.000.000 150.000 0
12 300.000 660.000 19.726 640.274 511,00 25,55 1.560.000
tại: Kp4, P Bảo An,
TP PR-TC
08/11/2023 5.000.000 250.000 0
9 500.000 950.000 24.658 925.342 511,00 25,55 3.200.000
Đào Thị Danh, SN
1954, trú tại: Kp3,
5.000.000 250.000
650.000 1.500.000 46.575 1.453.425 554,80 27,74 1.600.000
P Phủ Hà, TP PR-
17
7
TC
06/11/2023
0
Trần Thị Hằng, SN
1978, trú tại: Kp8,
5.000.000 250.000 0
6 500.000 800.000 16.438 783.562 511,00 25,55 3.800.000
P Đô Vinh, TP PR-8
TC
03/09/2023
Trần Thị Bé, SN
1971, trú tại: Kp4,
23/10/2023 5.000.000 250.000 0
8 650.000 1.050.000 21.918 1.028.082 554,80 27,74 3.400.000
P Kinh Dinh, TP 9
PR-TC
5.000.000 250.000
650.000 1.900.000 35.616 1.864.384 1.066,92 53,35
0
Nguyễn Thị Lan, 22/10/2023
13
0
SN 1965, trú tại:
5.000.000 250.000
500.000 1.350.000 46.575 1.303.425 511,00 25,55 1.600.000 10 Kp3, P Phủ Hà, TP 04/11/2023
0
17
3.000.000 150.000 22
0 300.000 1.050.000 36.164 1.013.836 580,68 29,03
0
Nguyễn Thị Đi, SN 13/10/2023
1971, trú tại: Ninh
04/11/2023 3.000.000 150.000 0
17 300.000 810.000 27.945 782.055 511,00 25,55 960.000
Quý 2, Phước Sơn,
Ninh Phước 11
16/11/2023 1.000.000 50.000 0
5 100.000 150.000 2.740 147.260 511,00 25,55 800.000
Hồ Thị Thu Vân,
24/9/2023 5.000.000 250.000 12
0 650.000 1.900.000 32.877 1.867.123 1.155,83 57,79
0
SN 1969, trú tại:
Kp5, P Tấn Tài, TP
6/10/2023 5.000.000 250.000 0
4 500.000 700.000 10.959 689.041 511,00 25,55 4.200.000 12
PR-TC
Nguyễn Thị Như
5.000.000 250.000
650.000 1.900.000 41.096 1.858.904 924,67 46,23
0
Diễm, SN 1987, trú 30/10/2023
15
0
tại: Kp6, P Đạo
5.000.000 250.000
500.000 750.000 13.699 736.301 511,00 25,55 4.000.000 13 Long, TP PR-TC 14/11/2023
0
5
Nguyễn Thị Mỹ Dễ
(Như), SN 1985, trú
14/11/2023 5.000.000 250.000 0
7 300.000 650.000 19.178 630.822 452,60 22,63
0
tại Kp4, P Văn Hải, 14
TP PR-TC
Lê Thị Thanh Mai,
SN 1991, trú tại Vạn
Phước, xã Phước
3.000.000 150.000
300.000 720.000 23.014 696.986 511,00 25,55 1.320.000
Thuận, huyện Ninh 15
Phước
05/11/2023
0
14
Nguyễn Cẩm Giang,
5.000.000 250.000
500.000 1.750.000 30.137 1.719.863 1.161,36 58,07
0
SN 1989, trú tại 02/11/2023
11
0
Thạch Hà, xã Quảng
Sơn, huyện Ninh
5.000.000 250.000
0
350.000 19.178 330.822 365,00 18,25 3.600.000 16
Sơn
13/11/2023
0
7
Tổng
138,000,000
37,740,000 890,411 36,849,589
42.840.000
Cáo trạng số: 126/CT-VKSPRTC ngày 23/5/2024 của Viện kiểm sát nhân
dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận truy tố các bị cáo Vũ Đắc H, La Thanh C về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 của Bộ luật hình sự.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ
hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng nêu trên.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang-T, tỉnh
Ninh Thuận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố: Các bị cáo Vũ Đắc H, La Thanh C phạm tội “Cho vay lãi nặng
trong giao dịch dân sự”.
- Áp dụng: Khoản 1 Điều 201; Điểm i (phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp
ít nghiêm trọng), điểm s (thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải) khoản 1 Điều 51; của Bộ luật hình sự.
- Xử phạt các bị cáo Vũ Đắc H, La Thanh C mức án từ 12 đến 15 tháng Cải
tạo không giam giữ.
- Về biện pháp tư pháp:
+ Số tiền 1.030.000 đồng; 01 điện thoại Nokia, loại bàn phím, màu đen, gắn
sim số 0914029094; 01 điện thoại, hiệu Samsung, màu đen, gắn sim số 0563632999 của Vũ Đắc H. 01 điện thoại Iphone 6, màu vàng, gắn sim số 0877951866; 01 điện thoại Nokia, loại bàn phím, màu xanh, gắn sim số 0855950628 của La Thanh C. Đây là số tiền thu lợi bất chính, phương tiện sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đề nghị tịch thu, sung vào Ngân sách Nhà nước là có căn cứ.
+ 01 xe mô tô, hiệu Blade, màu đỏ đen, biển số: 71B3-127.30, thuộc quyền
sở hữu của bà Lê Thị H1 (Sinh năm: 1968, trú tại: V, Thanh C1, T, Hải Dương là mẹ của Vũ Đắc H) và 01 xe mô tô, hiệu Wave Alpha, màu đỏ đen bạc, biển số: 85D1-435.41, thuộc quyền sở hữu của chị Trần Thị T6 (Sinh năm: 1992, trú tại: Khu phố C, phường Đ, TP . - T). Khi cho mượn xe, bà H1, chị T6 không biết việc H, La Thanh C sử dụng xe của mình để thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho bà H1, chị T6 là có căn cứ.
+ Đề nghị: Buộc Vũ Đắc H, La Thanh C phải giao nộp số tiền 95.020.411
đồng (Số tiền 95.160.000 đồng là khoản tiền dùng cho vay và số tiền 890.411 đồng là tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật dân sự đã thu của người vay) (Đã trừ đi số tiền 1.030.000 đồng đang bị tạm giữ). Buộc bà Phan Thị Hồng Đ giao nộp số tiền 2.600.000 đồng; bà Nguyễn Thị Xuân T2 nộp số tiền 4.000.000 đồng; chị Trần Thị Thu T1 nộp số tiền 3.800.000 đồng; chị Phạm Thị D nộp số tiền 2.000.000 đồng; bà Lê Thị Tuyết H2 nộp số tiền 400.000 đồng; chị Nguyễn Thị Diễm T3 nộp số tiền 4.760.000 đồng; bà Đào Thị D1 nộp số tiền 1.600.000 đồng; chị Trần Thị H3 nộp số tiền 3.800.000 đồng; chị Trần Thị B1 nộp số tiền 3.400.000 đồng; bà Nguyễn Thị L nộp số tiền 1.600.000 đồng; chị Nguyễn Thị Đ1 nộp số tiền 1.760.000 đồng; bà Hồ Thị Thu V1 nộp số tiền 4.200.000 đồng; bà Nguyễn Thị Như D2 nộp số tiền 4.000.000 đồng; bà Lê Thị Thanh M nộp số tiền 1.320.000 đồng; bà Nguyễn Cẩm G nộp số tiền 3.600.000 đồng là khoản tiền mà Vũ Đắc H, La Thanh C dùng để cho vay nhưng những người vay chưa trả để sung vào Ngân sách Nhà nước.
+ Buộc Vũ Đắc H, La Thanh C phải trả lại cho Phan Thị Hồng Đ số tiền
3.034.246 đồng; Nguyễn Thị Xuân T2 số tiền 2.592.466 đồng; Trần Thị Thu T1 số tiền 4.378.768 đồng; Phạm Thị D số tiền 4.773.973 đồng; Lê Thị Tuyết H2 số tiền 1.736.986 đồng; Nguyễn Thị Diễm T3 3.427.260 đồng; Đào Thị Danh số tiền 1.453.425 đồng; Trần Thị Hằng số tiền 783.562 đồng; Trần Thị B1 số tiền 1.028.082 đồng; Nguyễn Thị L số tiền 3.167.809 đồng; Nguyễn Thị Đ1 số tiền 1.943.151 đồng; Hồ Thị Thu V1 số tiền 2.556.164 đồng; Nguyễn Thị Như D2 2.595.205 đồng; Nguyễn Thị Mỹ D3 số tiền 630.822 đồng; Lê Thị Thanh M số tiền 696.986 đồng; Nguyễn Cẩm G số tiền 2.050.685 đồng là số tiền thu lợi bất chính mà Vũ Đắc H, La Thanh C thực tế đã thu là có căn cứ.
Các bị cáo không tranh luận.
Các bị cáo nói lời sau cùng:
Bị cáo H: Không nói lời nói sau cùng.
Bị cáo C: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố P - T; Cơ
quan điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên toà, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Lời khai của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa nên có cơ sở xác định: Trong khoảng thời gian từ ngày 03/9/2023 đến ngày 16/11/2023, trên địa bàn thành phố P-T, Vũ Đắc H, La Thanh C đã thực hiện hành vi cho vay tiền với lãi suất từ 511%/năm đến 1387%/năm) cao gấp từ 25,55 lần đến 69,35 lần so với mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự. Cụ thể, quá trình điều tra, xác định được Vũ Đắc H, La Thanh C đã cho 16 người vay tiền (gồm bà Phan Thị Hồng Đ, bà Nguyễn Thị Xuân T2, bà Trần Thị Thu T1, bà Phạm Thị D, bà Lê Thị Tuyết H2, bà Nguyễn Thị Diễm T3, bà Đào Thị D1, bà Trần Thị H3, bà Trần Thị B1, bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị Đ1, bà Hồ Thị Thu V1, bà Nguyễn Thị Như D2, bà Nguyễn Thị Mỹ D3, bà Lê Thị Thanh M, bà Nguyễn Cẩm G) với tổng số tiền cho vay là 138.000.000 đồng, thu lợi bất chính 36.849.589 đồng (ba mươi sáu triệu tám trăm bốn mươi chín nghìn năm trăm tám mươi chín đồng). Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự. Do đó Cáo trạng số: 126/CT-VKSPRTC ngày 23-5-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang-T truy tố các bị cáo Vũ Đắc H, La Thanh C về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 của Bộ luật hình sự là có cơ sở, đúng pháp luật.
[3] Các bị cáo là người đã trưởng thành, có sức khỏe, có khả năng lao động
nhưng không chịu kiếm tiền chân chính mà lại lợi dụng khó khăn về tài chính của người khác để thu lợi bất chính từ việc cho vay lãi nặng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước mà còn xâm phạm đến quyền lợi của công dân được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương nên Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tương ứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.
[4] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cân nhắc các tình tiết tăng
nặng, giảm nhẹ và nhân thân của các bị cáo như sau: Các bị cáo Vũ Đắc H, La Thanh C không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, không có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo Vũ Đắc H rủ rê bị cáo La Thanh C thực hiện hành vi cho vay lãi nặng, thực hiện hành vi cho vay lãi nặng tích cực hơn nên phải chịu mức án cao hơn. Xét thấy cần áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
[5] Về biện pháp tư pháp:
[5.1] Cơ quan điều tra đã tạm giữ: 01 điện thoại Nokia, loại bàn phím, màu
đen, gắn sim số 0914029094, 01 điện thoại, hiệu Samsung, màu đen, gắn sim số 0563632999 của Vũ Đắc H; 01 điện thoại Iphone 6, màu vàng, gắn sim số 0877951866; 01 điện thoại Nokia, loại bàn phím, màu xanh, gắn sim số 0855950628 của La Thanh C. Đây là phương tiện sử dụng vào việc phạm tội nên đề nghị tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước là có căn cứ.
[5.2] 01 xe mô tô, hiệu Blade, màu đỏ đen, biển số: 71B3-127.30, thuộc quyền
sở hữu của bà Lê Thị H1 (Sinh năm: 1968, trú tại: V, Thanh C1, T, Hải Dương là mẹ của Vũ Đắc H) và 01 xe mô tô, hiệu Wave Alpha, màu đỏ đen bạc, biển số: 85D1-435.41, thuộc quyền sở hữu của bà Trần Thị T6 (Sinh năm: 1992, trú tại: Khu phố C, phường Đ, TP . - T). Khi cho mượn xe, bà H1, chị T6 không biết việc Vũ Đắc H, La Thanh C sử dụng xe để thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho bà H1, bà T6 là có căn cứ.
[5.3] Đối với số tiền 138.000.000 đồng mà Vũ Đắc H, La Thanh C dùng để
cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự là phương tiện phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước. Trong đó:
[5.3.1] Số tiền vay những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chưa trả cho
Vũ Đắc H, La Thanh C gồm bà Phan Thị Hồng Đ số tiền 2.600.000 đồng; bà Nguyễn Thị Xuân T2 số tiền 4.000.000 đồng; chị Trần Thị Thu T1 số tiền 3.800.000 đồng; chị Phạm Thị D số tiền 2.000.000 đồng; bà Lê Thị Tuyết H2 số tiền 400.000 đồng; chị Nguyễn Thị Diễm T3 số tiền 4.760.000 đồng; bà Đào Thị Danh s tiền 1.600.000 đồng; chị Trần Thị Hằng s1 tiền 3.800.000 đồng; bà Trần Thị B1 số tiền 3.400.000 đồng; bà Nguyễn Thị L số tiền 1.600.000 đồng; chị Nguyễn Thị Đ1 số tiền 1.760.000 đồng; bà Hồ Thị Thu V1 số tiền 4.200.000 đồng; bà Nguyễn Thị Như D2 số tiền 4.000.000 đồng; bà Lê Thị Thanh M số tiền 1.320.000 đồng; bà Nguyễn Cẩm G số tiền 3.600.000 đồng. Do đó, buộc bà Phan Thị Hồng Đ, bà Nguyễn Thị Xuân T2, bà Trần Thị Thu T1, bà Phạm Thị D, bà Lê Thị Tuyết H2, bà Nguyễn Thị Diễm T3, bà Đào Thị D1, bà Trần Thị H3, bà Nguyễn Thị L, bà Nguyễn Thị Đ1, bà Hồ Thị Thu V1, bà Nguyễn Thị Như D2, bà Lê Thị Thanh M, bà Nguyễn Cẩm G phải nộp vào ngân sách Nhà nước số tiền đã vay chưa trả cho Vũ Đắc H, La Thanh C. Tại phiên tòa, các bị cáo Vũ Đắc H, La Thanh C đồng ý nộp thay bà Trần Thị B1 số tiền gốc chưa trả nên buộc các bị cáo nộp số tiền 3.400.000 đồng để sung vào Ngân sách Nhà nước.
[5.3.2] Số tiền vay những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã trả cho Vũ
Đắc H, La Thanh C là 95.160.000 đồng, buộc Vũ Đắc H, La Thanh C phải liên đới nộp lại số tiền này.
[5.4] Đối với số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất cao nhất theo quy định của
Bộ luật Dân sự là 890.411 đồng (làm tròn 890.000 đồng) là khoản tiền phát sinh từ tội phạm nên buộc các bị cáo Vũ Đắc H, La Thanh C liên đới nộp lại để tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
[5.5] Đối với số tiền thu lợi bất chính 36.849.589 đồng: Buộc các bị cáo Vũ
Đắc H, La Thanh C phải có nghĩa vụ liên đới trả lại cho bà Phan Thị Hồng Đ số tiền 3.034.246 đồng (làm tròn 3.034.000 đồng); bà Nguyễn Thị Xuân T2 số tiền 2.592.465 đồng (làm tròn 2.592.000 đồng); bà Trần Thị Thu T1 số tiền 4.378.768 đồng (làm tròn 4.379.000 đồng); bà Phạm Thị D số tiền 4.773.973 đồng (làm tròn 4.774.000 đồng); bà Lê Thị Tuyết H2 số tiền 1.736.986 đồng (làm tròn 1.737.000 đồng); bà Nguyễn Thị Diễm T3 3.427.260 đồng (làm tròn 3.427.000 đồng); bà Đào Thị Danh s tiền 1.453.425 đồng (làm tròn 1.453.000 đồng); bà Trần Thị Hằng s1 tiền 783.562 đồng (làm tròn 784.000 đồng); ông Nguyễn Văn Q, bà Nguyễn Thị Ánh T4, bà Nguyễn Thị Ánh V, ông Nguyễn Văn S (người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà Trần Thị B1) số tiền 1.028.082 đồng (làm tròn 1.028.000 đồng); bà Nguyễn Thị L số tiền 3.167.809 đồng (làm tròn 3.168.000 đồng); bà Nguyễn Thị Đ1 số tiền 1.943.151 đồng (làm tròn 1.943.000 đồng); bà Hồ Thị Thu V1 số tiền 2.556.164 đồng (làm tròn 2.556.000 đồng); Nguyễn Thị Như D2 2.595.205 đồng (làm tròn 2.595.000 đồng); bà Nguyễn Thị Mỹ D3 số tiền 630.822 đồng (làm tròn 631.000 đồng); bà Lê Thị Thanh M số tiền 696.986 đồng (làm tròn 697.000 đồng); bà Nguyễn Cẩm G số tiền 2.050.685 đồng (làm tròn 2.051.000 đồng).
[6] Xét quan điểm của Viện Kiểm sát về việc định tội và định khung hình phạt;
các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của
pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng: Khoản 1, khoản 3 Điều 201; Điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ
luật hình sự.
1.1 Tuyên bố: Các bị cáo Vũ Đắc H, La Thanh C phạm tội “Cho vay lãi nặng
trong giao dịch dân sự”.
1.2 Xử phạt:
Bị cáo Vũ Đắc H 20 (hai mươi) tháng Cải tạo không giam giữ.
Bị cáo La Thanh C 18 (mười tám) tháng Cải tạo không giam giữ.
Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công
an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Vũ Đắc H cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương
giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo Vũ Đắc H có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Giao bị cáo La Thanh C cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện P, tỉnh Thái
Nguyên giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo La Thanh C có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã V, huyện P, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
1.3 Hình phạt bổ sung:
Phạt bổ sung bị cáo Vũ Đắc H số tiền 30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng.
Phạt bổ sung bị cáo La Thanh C số tiền 30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng.
2. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ: Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106
2.1 Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại Nokia, loại bàn
phím, màu đen, gắn sim số 0914029094, 01 điện thoại, hiệu Samsung, màu đen, gắn sim số 0563632999; 01 điện thoại Iphone 6, màu vàng, gắn sim số 0877951866; 01 điện thoại Nokia, loại bàn phím, màu xanh, gắn sim số 0855950628.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 25-6-2024 giữa Chi cục Thi hành
án dân sự thành phố Phan Rang-T, tỉnh Ninh Thuận và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P-T, tỉnh Ninh Thuận).
2.2 Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước các khoản tiền sau:
Bị cáo Vũ Đắc H, La Thanh C phải nộp số tiền 95.160.000 đồng, số tiền
890.000 đồng và số tiền 3.400.000 đồng, tổng cộng 99.450.000 đồng để sung vào Ngân sách Nhà nước. Trong đó, khấu trừ vào số tiền đang tạm giữ là 1.030.000 đồng (Theo Ủy nhiệm chi lập ngày 31-5-2024 tại Kho bạc nhà nước N giữa Công an thành phố P- T và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phan Rang- T). Buộc các bị cáo Vũ Đắc H, La Thanh C có nghĩa vụ liên đới nộp lại số tiền sau khi khấu trừ là 98.420.000 đồng (Chín mươi tám triệu, bốn trăm hai mươi nghìn đồng) để sung vào Ngân sách Nhà nước.
Buộc bà Phan Thị Hồng Đ nộp lại số tiền vay chưa trả là 2.600.000 đồng (Hai
triệu sáu trăm nghìn đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.
Buộc bà Nguyễn Thị Xuân T2 nộp lại số tiền vay chưa trả là 4.000.000 đồng
(Bốn triệu đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.
Buộc bà Trần Thị Thu T1 nộp lại số tiền vay chưa trả là 3.800.000 đồng (Ba
triệu tám trăm nghìn đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.
Buộc bà Phạm Thị D nộp lại số tiền vay chưa trả là 2.000.000 đồng (Hai triệu
đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.
Buộc bà Lê Thị Tuyết H2 nộp lại số tiền vay chưa trả là 400.000 đồng (Bốn
trăm nghìn đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.
Buộc bà Nguyễn Thị Diễm T3 nộp lại số tiền vay chưa trả là 4.760.000 đồng
(Bốn triệu bảy trăm sáu mươi nghìn đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.
Buộc bà Đào Thị D1 nộp lại số tiền vay chưa trả là 1.600.000 đồng (Một triệu
sáu trăm nghìn đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.
Buộc bà Trần Thị H3 nộp lại số tiền vay chưa trả là 3.800.000 đồng (Ba triệu
tám trăm nghìn đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.
Buộc bà Nguyễn Thị L nộp lại số tiền vay chưa trả là 1.600.000 đồng (Một
triệu sáu trăm nghìn đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.
Buộc bà Nguyễn Thị Đ1 nộp lại số tiền vay chưa trả là 1.760.000 đồng (Một
triệu bảy trăm sáu mươi nghìn đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.
Buộc bà Hồ Thị Thu V1 nộp lại số tiền vay chưa trả là 4.200.000 đồng (Bốn
triệu hai trăm nghìn đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.
Buộc bà Nguyễn Thị Như D2 nộp lại số tiền vay chưa trả là 4.000.000 đồng
(Bốn triệu đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.
Buộc bà Lê Thị Thanh M nộp lại số tiền vay chưa trả là 1.320.000 đồng (Một
triệu ba trăm hai mươi nghìn đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.
Buộc bà Nguyễn Cẩm G nộp lại số tiền vay chưa trả là 3.600.000 đồng (Ba
triệu sáu trăm nghìn đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.
2.3 Buộc các bị cáo Vũ Đắc H, La Thanh C có nghĩa vụ liên đới trả lại cho
những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan số tiền thu lợi bất chính, cụ thể như sau:
Trả lại cho bà Phan Thị Hồng Đ số tiền: 3.034.000 đồng (Ba triệu không trăm
ba mươi bốn nghìn đồng).
Trả lại cho bà Nguyễn Thị Xuân T2 số tiền: 2.592.000 đồng (Hai triệu năm
trăm chín mươi hai nghìn đồng).
Trả lại cho bà Trần Thị Thu T1 số tiền: 4.379.000 đồng (Bốn triệu ba trăm
bảy mươi chín nghìn đồng).
Trả lại cho bà Phạm Thị D số tiền: 4.774.000 đồng (Bốn triệu bảy trăm bảy
mươi bốn nghìn đồng)
Trả lại cho bà Lê Thị Tuyết H2 số tiền 1.737.000 đồng (Một triệu bảy trăm ba
mươi bảy nghìn đồng).
Trả lại cho bà Nguyễn Thị Diễm T3 số tiền 3.427.000 đồng (Ba triệu bốn
trăm hai mươi bảy nghìn đồng).
Trả lại cho bà Đào Thị Danh s tiền 1.453.000 đồng (Một triệu bốn trăm năm
mươi ba nghìn đồng).
Trả lại cho bà Trần Thị Hằng s1 tiền 784.000 đồng (Bảy trăm tám mươi bốn
nghìn đồng).
Trả lại cho những người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bà Trần Thị B1 là ông
Nguyễn Văn Q, bà Nguyễn Thị Ánh T4, bà Nguyễn Thị Ánh V, ông Nguyễn Văn S số tiền 1.028.000 đồng (Một triệu không trăm hai mươi tám nghìn đồng).
Trả lại cho bà Nguyễn Thị L số tiền 3.168.000 đồng (Ba triệu một trăm sáu
mươi tám nghìn đồng).
Trả lại cho bà Nguyễn Thị Đ1 số tiền 1.943.000 đồng (Một triệu chín trăm
bốn mươi ba nghìn đồng).
Trả lại bà Hồ Thị Thu V1 số tiền 2.556.000 đồng (Hai triệu năm trăm năm
mươi sáu nghìn đồng).
Trả lại bà Nguyễn Thị Như D2 số tiền 2.595.000 đồng (Hai triệu năm trăm
chín mươi lăm nghìn đồng).
Trả lại cho bà Nguyễn Thị Mỹ D3 số tiền 631.000 đồng (Sáu trăm ba mươi
mốt nghìn đồng).
Trả lại cho bà Lê Thị Thanh M số tiền 697.000 đồng (Sáu trăm chín mươi bảy
nghìn đồng).
Trả lại bà Nguyễn Cẩm G số tiền 2.051.000 đồng (Hai triệu không trăm năm
mươi mốt nghìn đồng).
3. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Khoản 1
Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Vũ Đắc H, La Thanh C, mỗi người phải chịu 200.000 (Hai trăm
nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm; có mặt các bị cáo; quyền kháng cáo trong hạn 15
ngày kể từ ngày tuyên án; vắng mặt những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người có QL&NV liên quan; - VKSND TP. PR-TC; - CQĐT Công an TP. PR-TC; - CQTHAHS Công an TP. PR-TC; - Chi cục THADS TP. PR-TC; - Sở Tư pháp tỉnh Ninh Thuận; - VKSND tỉnh Ninh Thuận; - TAND tỉnh Ninh Thuận; - Lưu: Hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Trần Thanh Thư |