- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xin ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Hồ Thị Mỹ V. Cho chị Hồ Thị Mỹ V được ly hôn anh Lê Minh Th.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 153/2024/HNGĐ-ST Ngày: 12/6/2024 V/v tranh chấp “Xin ly hôn, nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Bà ÂU THỊ THẢO
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông ĐỖ DUY HỪNG
2. Ông TRẦN TRUNG NHÂN
- Thư ký phiên tòa: Ông HỨA QUỐC THÁI - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang không tham gia phiên toà.
Ngày 12 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 26/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 01 năm 2024 về việc tranh chấp “Xin ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị HỒ THỊ MỸ V, sinh năm 1979.
Địa chỉ: ấp Mỹ H C, xã Mỹ Đức Đ, huyện Cái B, tỉnh Tiền G
2. Bị đơn: Anh LÊ MINH TH, sinh năm 1981.
Địa chỉ: ấp Mỹ H C, xã Mỹ Đức Đ, huyện Cái B, tỉnh Tiền G
(Chị V có đơn xin vắng mặt, anh Th vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Hồ Thị Mỹ V trình bày:
Do quen biết chị và anh Th chính thức xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2001, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thiện Tr. Sống hạnh phúc đến tháng 6 năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm, anh Thành ghen tuông vô cớ nên vợ chồng thường xuyên tranh cãi và anh chị đã chính thức ly thân luôn từ tháng 6 năm 2021 cho đến nay. Nay chị cương quyết yêu cầu được ly hôn anh Th.
Về con chung: Có hai cháu tên Lê Thị Thanh Th, sinh ngày 29/10/2002 đã đủ 18 tuổi và lao động được nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; Lê Minh Th, sinh ngày 19/11/2007 hiện đang sống với chị. Nay chị yêu cầu được nuôi cháu Th, không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Lê Minh Th không có văn bản ý kiến và vắng mặt không lý do.
Tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn xin giải quyết vắng mặt. Bị đơn vắng mặt không lý do.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
[1] Chị Hồ Thị Mỹ V có đơn xin giải quyết vụ án vắng mặt. Anh Lê Minh Th vắng mặt không rõ lý do mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Căn cứ theo quy định tại Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt họ là phù hợp theo quy định của pháp luật.
Về nội dung:
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị V trình bày do quen biết chị và anh Th chính thức xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2001, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Thiện Tr. Sống hạnh phúc đến tháng 6 năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm, anh Th ghen tuông vô cớ nên vợ chồng thường xuyên tranh cãi và anh chị đã chính thức ly thân luôn từ tháng 6 năm 2021 cho đến nay. Nay chị cương quyết yêu cầu được ly hôn anh Th. Xét thấy, cho chị V được ly hôn anh Th là có cơ sở. Bởi lẽ, từ khi ly thân tới nay anh chị cũng không có phương án nào để hàn gắn xây dựng tổ ấm chăm sóc con nhỏ, trong quá trình giải quyết vụ án chị V khẳng định không còn tình cảm với anh Th. Đồng thời, quá trình thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật cho anh Th để đảm bảo quyền nêu ý kiến của anh, cũng như hoà giải để anh chị đoàn tụ nhưng anh Th vẫn không có văn bản trình bày ý kiến và vắng mặt không lý do. Chứng tỏ, anh cố tình từ bỏ quyền phản đối, quyền chứng minh của mình và thể hiện anh không còn quan tâm đến cuộc sống hôn nhân giữa anh và chị V nên không có biện pháp nào để hàn gắn, đoàn tụ được. Do đó, cuộc sống hôn nhân của anh chị đã thật sự đổ vỡ, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Cho nên, chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị V là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[3] Về con chung: Có hai cháu tên Lê Thị Thanh Th, sinh ngày 29/10/2002 đã đủ 18 tuổi và lao động được nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; Lê Minh Th, sinh ngày 19/11/2007 hiện đang sống với chị V. Xét thấy, tiếp tục giao cháu Th cho chị V nuôi là có cơ sở. Bởi lẽ, cháu đã sống ổn định với chị V từ khi vợ chồng ly thân đến nay cũng như bản thân cháu Th có nguyện vọng được sống với mẹ khi cha mẹ ly hôn. Đồng thời, trong suốt quá trình giải quyết vụ án, anh Th không cung cấp bất kỳ văn bản ý kiến gì liên quan đến yêu cầu được nuôi con chung của chị V. Từ đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chung, tránh xáo trộn về mặt tâm sinh lý, đời sống học tập của các cháu nên tiếp tục giữ nguyên hiện trạng việc nuôi con chung là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Trong quá trình giải quyết, chị V không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét là phù hợp theo quy định của pháp luật.
[5] Về tài sản chung: Chị V xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết cũng như anh Th không có ý kiến gì liên quan đến tài sản chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[6] Về nợ chung: Chị V xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết cũng như anh Thành không có ý kiến gì liên quan đến nợ chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[7] Về án phí: Chị V phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Hồ Thị Mỹ V. Cho chị Hồ Thị Mỹ V được ly hôn anh Lê Minh Th.
- Về con chung: Giao một con chung tên Lê Minh Th, sinh ngày 19/11/2007 cho chị Hồ Thị Mỹ V được trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Th không phải cấp dưỡng nuôi con vì chị V không yêu cầu.
Sau khi ly hôn, anh Th có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về án phí: Chị Hồ Thị Mỹ V phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Chị đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0014886 ngày 19/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang nên xem như thi hành xong.
- Về quyền kháng cáo: Chị V; anh Th có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND huyện Cái Bè; - CCTHADS huyện Cái Bè; - UBND xã Thiện Tr, huyện C Bè, tỉnh Tiền G; - Đương sự (để thi hành); - Lưu: TDS, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ÂU THỊ THẢO |