vanban.org

Bản án 153/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 28/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đặng Hồng M phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Đặng Hồng M 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 28/07/2023). Giao bị cáo Đặng Hồng M cho UBND xã VT, huyện VC, tỉnh Đồng Nai giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Hồng M - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đặng Hồng M phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẢNG BOM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐỒNG NAI
——————————
Bản án số: 153/2023/HS-ST
Ngày: 28 - 07 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM- TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Duy Mạnh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Xuân Dậu và ông Nguyễn Đình Quang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Yến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Lê Trọng Đại - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 102/2023/TLST-HS ngày 21 tháng 04 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 06 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số: 152/2023/HSST-QĐ ngày 19 tháng 06 năm 2023, Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử số: 01/TB-TA ngày 28 tháng 06 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số: 168/2023/HSST-QĐ ngày 14 tháng 07 năm 2023 và Thông báo dời lịch xét xử số: 02/TB-TA ngày 20 tháng 07 năm 2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: Đặng Hồng M, sinh năm 1957 tại Vĩnh Phúc. Giới tính: Nam. Nơi cư trú: ấp 3, xã VT, huyện VC, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Thiên Chúa. Trình độ học vấn: 7/10. Nghề nghiệp: Không. Con ông Đặng Văn L (Đã chết) và bà Doãn Thị D (Đã chết). Có vợ là bà Cao Thị B (Đã chết) và có 09 người con, lớn nhất sinh năm 1980, nhỏ nhất sinh năm 2000.

Tiền án, tiền sự: Không có.

Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.

- Bị hại: Bà Cao Thị B, sinh năm 1959 (Đã chết).

- Người đại diện hợp pháp của bị hại:

+ Anh Đặng Ngọc T, sinh năm 1980.

+ Anh Đặng Văn S, sinh năm 1982.

+ Anh Đặng Việt H, sinh năm 1985.

+ Anh Đặng Văn Hồ B1, sinh năm 1987.

+ Anh Đặng Văn Hoài N, sinh năm 1989.

+ Anh Đặng Văn Tiến B2, sinh năm 1991.

+ Anh Đặng Công B3, sinh năm 1993.

+ Chị Đặng Thị Thu H1, sinh năm 2000.

Cùng cư trú tại: ấp 3, xã VT, huyện VC, tỉnh Đồng Nai.

+ Chị Đặng Thị Tuyết C, sinh năm 1995. Cư trú tại: Số 240/12/3 đường PVC, phường 9, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1991. Cư trú tại: ấp PT, xã PC, huyện ĐQ, tỉnh Đồng Nai.

+ Anh Trần Đức T1, sinh năm 1988. Cư trú tại: Số 2561 QL1, ấp TH, xã HN3, huyện TB, tỉnh Đồng Nai.

+ Anh Nguyễn Thanh H1, sinh năm 1996. Cư trú tại: Số 5B/34, kp5, phường HN, thành phố BH, tỉnh Đồng Nai.

+ Ông Nguyễn Huy H2, sinh năm 1972. Cư trú tại: Số 5B/34, kp5, phường HN, thành phố BH, tỉnh Đồng Nai.

- Người làm chứng:

+ Ông Lâm T2, sinh năm 1978.

+ Ông Trần Văn N1, sinh năm 1961.

+ Anh Nguyễn Hữu T3, sinh năm 1985.

(Bị cáo đề nghị xét xử vắng mặt, ông Đặng Việt H có mặt, những người

tham gia tố tụng khác đều vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ông Đặng Hồng M (Không có giấy phép lái xe theo quy định) và bà Cao Thị B là vợ chồng. Vào sáng ngày 27/8/2022, ông M điều khiển xe mô tô biển số 60B9 – 493.48 chở bà B đi từ nhà con gái ở Thành phố Hồ Chí Minh về xã Vĩnh Tân, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai để dự đám cưới của người thân. Đến khoảng 07 giờ 50 phút cùng ngày, ông M điều khiển xe mô tô biển số 60B9 – 493.48 đi đến Km 1856 + 950 quốc lộ 1 thuộc ấp Thái Hòa, xã Hố Nai 3, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai và lưu thông trên làn đường hỗn hợp theo hướng Tp. Biên Hòa đi Tp. Long Khánh, tỉnh Đồng Nai. Lúc này trên làn đường hỗn hợp phía trước, cùng chiều với xe của ông M có xe ô tô tải biển số 60H – 015.78 do anh Nguyễn Văn Q (Có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển đang lưu thông và phía bên trái trên làn đường xe ô tô sát dải phân cách cứng giữa đường có xe ô tô biển số 60C – 196.52 do anh Nguyễn Thanh H1 (Có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển đang lưu thông phía trước cùng chiều với xe ô tô tải biển số 60H – 015.78. Tuy thấy trên làn đường xe hỗn hợp và làn đường xe ô tô đều đang có xe ô tô lưu thông nhưng ông M vẫn điều khiển xe mô tô biển số 60B9 – 493.48 vượt lên về phía bên trái của xe ô tô tải biển số 60H – 015.78, do vượt không đảm bảo an toàn nên mặt ngoài tay phanh và tay lái bên trái xe mô tô biển số 60B9 – 493.48 va chạm vào mặt ngoài góc sau bên phải thùng xe ô tô tải biển số 60C – 196.52 làm cho xe mô tô 60B9 – 493.48 mất thăng bằng ngã xuống đường, ông M và bà B cũng ngã xuống làn đường xe hỗn hợp, ông M bị thương nhẹ còn bà B ngã văng vào gầm xe ô tô tải biển số 60H – 015.78 nên bị bánh sau bên trái của xe ô tô tải biển số 60H – 015.78 cán qua người bị thương nặng. Sau khi tai nạn giao thông xảy ra anh Q và anh H1 đã dừng xe tại hiện trường phối hợp cùng người dân đưa ông M và bà B đến Bệnh viện đa khoa Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai cấp cứu, nhưng do thương tích nặng nên bà B đã tử vong trước khi vào bệnh viện.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 1836/KL-KTHS ngày 20/8/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đồng Nai kết luận nguyên nhân tử vong của bà Cao Thị B như sau:

“- Dấu hiệu chính: Xây sát da vùng vai – lưng – hông phải. Xây sát, bầm tím da khuỷu tay phải. Bầm tím da đùi trái. Bầm tím, rách da cẳng chân phải. Tụ máu dưới da, cơ vùng ngực hai bên. Gãy phức tạp xương sườn hai bên đa cung, gãy thân xương ức. Dập rách hai phổi vùng rốn phổi. Rách bao màng ngoài tim bên trái, rách cuống tim. Rách cơ hoành bên trái một phần dạ dày và quai ruột thoát lên. Rách gan thùy phải. Rách tụ máu thận trái.

- Nguyên nhân tử vong: Chấn thương ngực – bụng kín; gãy xương sườn, xương ức, dập rách phổi, vỡ tim, rách cơ hoành, rách gan, rách thận”.

Sau khi tai nạn xảy ra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom đã tiến hành khám nghiệm hiện trường và ghi nhận dấu vết như sau:

“- Hiện trường vụ tai nạn giao thông là đoạn đường hai chiều có vạch sơn đứt nét màu vàng ở giữa phân chia hai chiều đường hướng Biên Hòa đi Long Khánh và ngược lại. Đường thẳng, mặt đường trải nhựa bằng phẳng có vạch sơn đứt nét màu trắng phân chia 02 làn đường, làn 1 rộng 04m20, làn 2 rộng 03m50.

- Xác định điểm mốc và mép đường chuẩn: Hướng Biên Hòa đi Long Khánh lấy mép đường bên phải làm mép đường chuẩn. Trụ điện số 17 xác định làm điểm mốc.

- Vị trí xe mô tô biển số 60B9 – 493.48: nằm ngã nghiêng bên phải, đầu xe hướng đi Long Khánh, đuôi xe hướng đi Biên Hòa. Đo tâm trục bánh trước cách mép đường chuẩn là 05m50; đo tâm trục bánh sau cách mép đường chuẩn là 04m95. Khoảng cách đo từ tâm trục bánh trước của xe mô tô biển số 60B9 – 493.48 đến tâm trục bánh sau bên phải của xe ô tô biển số 60C – 196.52 là 07m20.

- Vị trí xe ô tô biển số 60C – 196.52: Sau tai nạn xe dừng trên mặt đường nhựa, đầu xe hướng đi Long Khánh, đuôi xe hướng đi Biên Hòa. Đo từ tâm trục bánh trước bên phải cách mép đường chuẩn là 05m55; đo từ tâm trục bánh sau bên phải cách mép đường chuẩn là 05m70. Khoảng cách đo từ tâm trục bánh trước bên phải của xe ô tô biển số 60C – 196.52 cách tâm trục bánh sau bên trái của xe ô tô biển số 60H – 015.78 là 25m30.

- Vị trí xe ô tô biển số 60H – 015.78: Sau tai nạn xe dừng trên mặt đường nhựa, đầu xe hướng đi Long Khánh, đuôi xe hướng đi Biên Hòa. Đo từ tâm trục bánh trước bên phải cách mép đường chuẩn là 0m00; đo từ tâm trục bánh sau bên phải cách mép đường chuẩn là 0m00.

- Vị trí vết cày xe mô tô biển số 60B9 – 493.48 nằm trên mặt đường nhựa, hướng từ Biên Hòa đi Long Khánh. Đầu vết cày cách mép đường chuẩn là 05m15; chiều dài vết cày đo đến đầu gác để chân sau bên trái của xe mô tô biển số 60B9 – 493.48 là 06m55.

- Trụ điện số 17 bên lề phải hướng Biên Hòa đi Long Khánh, cách tâm trục bánh sau bên phải của xe ô tô biển số 60H – 015.78 là 08m70”.

Tại Bản kết luận giám định số: 5219/KL-KTHS ngày 28/9/2022 và Công văn số: 43/C09B ngày 19/12/2022 của Phân viện khoa học hình sự tại Tp. Hồ Chí Minh – Bộ Công an, kết luận dấu vết va chạm giữa các phương tiện trong vụ tai nạn giao thông như sau:

“1. Xe mô tô biển số 60B9 – 493.48 có va chạm với xe ô tô biển số 60C – 196.52; xe ô tô biển số 60H – 015.78 không va chạm với xe mô tô biển số 60B9 – 493.48 và xe ô tô biển số 60C – 196.52.

2. Cơ chế, chiều hướng hình thành dấu vết va chạm:

2.1. Dấu vết trượt xước bám chất màu xanh mặt ngoài tay phanh và tay lái bên trái xe mô tô biển số 60B9 – 493.48 có chiều từ trước về sau phù hợp dấu vết trượt xước mất sơn màu xanh, bám chất màu đen mặt ngoài góc sau bên phải thùng xe ô tô biển số 60C – 196.52 có chiều từ sau về trước, từ trái sang phải. Đây là vị trí va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện. Va chạm khi xe mô tô biển số 60B9 – 493.48 đang lưu thông.

2.2. Dấu vết trượt xước mất bụi mặt ngoài phía sau thanh ngang bên dưới khung kim loại bảo vệ bên trái gầm xe ô tô biển số 60H – 015.78 có chiều từ trước về sau, từ trên xuống dưới phù hợp va chạm với nạn nhân.

3. Vị trí va chạm giữa xe ô tô biển số 60C – 196.52 với xe mô tô biển số 60B9 – 493.48 và nạn nhân trên mặt đường nằm trên làn số 2, tính từ lề chuẩn theo hướng từ Biên Hòa đi Long Khánh.

4. Khi va chạm, các phương tiện lưu thông cùng chiều trên quốc lộ 1, hướng từ Biên Hòa đi Long Khánh.

5. Ngoài ra xe mô tô biển số 60B9 - 493.48 không va chạm với phương tiện nào khác”.

Quá trình điều tra, bị cáo Đặng Hồng M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên.

Tại bản Cáo trạng số: 114/CT-VKS-TB ngày 18 tháng 04 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Đặng Hồng M về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Đối với chị Đặng Thị Tuyết C là chủ sở hữu xe mô tô biển số 60B9 – 493.48, chị C không biết bị cáo Đặng Hồng M không có giấy phép lái xe và ngày 27/8/2022, ông M tự ý lấy xe của chị để đi mà chị cũng không biết nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với các anh Nguyễn Thanh H1 và anh Nguyễn Văn Q, do không có lỗi dẫn đến vụ tai nạn giao thông làm bà B chết nên không có căn cứ để xử lý.

+ Về vật chứng và xử lý vật chứng:

01 xe mô tô biển số 60B9 – 493.48; 01 xe ô tô biển số 60C – 196.52, 01 xe ô tô biển số 60H – 015.78; 01 giấy phép lái xe hạng C số 750144004454 do Sở Giao thông vận tải Tp. Hồ Chí Minh cấp ngày 04/9/2018 cho anh Nguyễn Thanh H1; 01 giấy phép lái xe hạng C số 790152060527 do Sở Giao thông vận tải tỉnh Đồng Nai cấp ngày 19/9/2018 cho anh Nguyễn Văn Q; 01 thẻ nhớ hiệu Kingston dung lượng 64GB có chứa dữ liệu hành trình của xe ô tô biển số 60C - 196.52.

Ngày 30/3/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Trảng Bom đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô biển số 60B9 – 493.48; xe ô tô biển số 60C – 196.52; xe ô tô biển số 60H – 015.78; giấy phép lái xe hạng C số 750144004454 do Sở Giao thông vận tải Tp. Hồ Chí Minh cấp ngày 04/9/2018 cho anh Nguyễn Thanh H1; giấy phép lái xe hạng C số 790152060527 do Sở Giao thông vận tải tỉnh Đồng Nai cấp ngày 19/9/2018 cho anh Nguyễn Văn Q cho chủ sở hữu tài sản là anh Trần Đức T1, anh Nguyễn Huy H2, anh Nguyễn Thanh H1, anh Nguyễn Văn Q, chị Đặng Thị Tuyết C và họ không có yêu cầu gì khác.

Đối với 01 thẻ nhớ hiệu Kingston dung lượng 64GB có chứa dữ liệu hành trình của xe ô tô biển số 60C – 196.52 lưu theo hồ sơ vụ án.

+ Về bồi thường thiệt hại:

Sau khi sự việc xảy ra, anh Trần Đức T1 (Chủ sở hữu xe ô tô biển số 60H – 015.78) đã tự nguyện hỗ trợ cho gia đình bà B số tiền 100.000.000 đồng và anh Nguyễn Thanh H1 (Người điều khiển xe ô tô biển số 60C – 196.52) đã tự nguyện hỗ trợ cho gia đình bà B số tiền 5.000.000 đồng. Người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Đặng Hồng M về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

+ Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

+ Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt; quá trình điều tra đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả; đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

+ Về hình phạt: Đề nghị xử phạt bị cáo 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm.

+ Xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Trảng Bom đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu theo đúng quy định của pháp luật; chủ sở hữu tài sản không có yêu cầu gì khác.

Đối với 01 thẻ nhớ hiệu Kingston dung lượng 64GB có chứa dữ liệu hành trình của xe ô tô biển số 60C – 196.52 đề nghị lưu theo hồ sơ vụ án.

+ Về phần dân sự: Đã giải quyết xong, đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

+ Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa, bị cáo Đặng Hồng M có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt vì đang phải điều trị bệnh cao huyết áp, mổ mắt. Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 290 Bộ luật tố tụng hình sự, Tòa án xét xử vắng mặt bị cáo Đặng Hồng M là đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung:

Tại phiên tòa, bị cáo Đặng Hồng M vắng mặt nhưng lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp với nội dung bản cáo trạng số: 114/CT-VKS-TB ngày 18 tháng 04 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, sơ đồ hiện trường vụ tai nạn giao thông đường bộ, biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông, biên bản khám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông, biên bản khám nghiệm tử thi hoặc một phần tử thi, bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 1836/KL-KTHS ngày 20/08/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đồng Nai, kết luận giám định số: 5219/KL-KTHS ngày 28/09/2022 kết luận dấu vết va chạm giữa các phương tiện trong vụ tai nạn, Công văn số: 43/C09B ngày 19/12/2022 về việc đính chính kết luận giám định của Phân viện KHHS tại TP. Hồ Chí Minh – Bộ Công an, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Có đủ căn cứ kết luận:

Vào ngày 27/8/2022 tại Km 1856 + 950 quốc lộ 1 thuộc ấp Thái Hòa, xã Hố Nai 3, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, Đặng Hồng M (Không có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe mô tô biển số 60B9 – 493.48 chở phía sau bà Cao Thị B (Là vợ của bị cáo) lưu thông theo hướng Tp. Biên Hòa đi Tp. Long Khánh vượt xe ô tô biển số 60H–015.78 do anh Nguyễn Văn Q điều khiển lưu thông cùng chiều phía trước nhưng do vượt xe không đảm bảo an toàn nên mặt ngoài tay phanh và tay lái bên trái xe mô tô biển số 60B9-493.48 va chạm vào mặt ngoài góc sau bên phải thùng xe ô tô tải biển số 60C-196.52 do anh Nguyễn Thanh H1 điều khiển lưu thông cùng chiều trên làn đường xe ô tô. Hậu quả làm cho xe mô tô 60B9-493.48 ngã xuống đường, bà B bị bánh sau bên trái của xe ô tô tải biển số 60H - 015.78 cán qua người tử vong.

Hành vi trên của Đặng Hồng M đã vi phạm khoản 9 Điều 8 và khoản 2 Điều 14 Luật giao thông đường bộ gây hậu quả chết một người nên đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, xâm phạm đến tính mạng của bà Cao Thị B được pháp luật bảo vệ. Do vậy, cần xử phạt bị cáo một mức án đủ nghiêm để cải tạo, giáo dục bị cáo có ý thức tuân thủ pháp luật, đồng thời còn răn đe và phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt; quá trình điều tra đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả; đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về biện pháp tư pháp (Bồi thường thiệt hại): Đã giải quyết xong, đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Xử lý vật chứng: Đối với xe mô tô biển số 60B9 – 493.48; xe ô tô biển số 60C – 196.52; 01 xe ô tô biển số 60H – 015.78; giấy phép lái xe hạng C số 750144004454 do Sở Giao thông vận tải Tp. Hồ Chí Minh cấp ngày 04/9/2018 cho anh Nguyễn Thanh H1; giấy phép lái xe hạng C số 790152060527 do Sở Giao thông vận tải tỉnh Đồng Nai cấp ngày 19/9/2018 cho anh Nguyễn Văn Q, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Trảng Bom đã trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp với quy định của pháp luật.

Đối với 01 thẻ nhớ hiệu Kingston dung lượng 64GB có chứa dữ liệu hành trình của xe ô tô biển số 60C – 196.52 để lưu theo hồ sơ vụ án.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom về việc áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo thì thấy: bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, bị cáo đủ điều kiện được hưởng chế định án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự và hướng dẫn tại Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán tòa án nhân dân tối cao. Hơn nữa, bị hại là vợ của bị cáo nên cho bị cáo được hưởng chế định án treo cũng thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo phải nộp số tiền 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử là phù hợp với quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Căn cứ Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 23/3/2022 và Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo;

Tuyên bố bị cáo Đặng Hồng M phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Đặng Hồng M 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 28/07/2023).

Giao bị cáo Đặng Hồng M cho UBND xã VT, huyện VC, tỉnh Đồng Nai giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92, Điều 68 của Luật thi hành án Hình sự.

Trong thời gian thử thách người được hưởng chế độ án treo cố ý vi phạm 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Đặng Hồng M phải nộp số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

3. Bị cáo, đại diện bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, người có mặt tính từ ngày tuyên án, người vắng mặt tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ