vanban.org

Bản án 153/2023/HS-PT — Hình sự

TAND TP Đà Nẵng Tuyên án 12/09/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 12/09/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trương Thị Vân A; giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

Xử phạt: Trương Thị Vân A 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Chiếm giữ trái phép tài sản. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án. Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Chiếm giữ trái phép tài sản - phạm tội chiếm giữ trái phép tài sản (điều 176 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trương Thị Vân A; giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 176 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 153/2023/HS-PT
Ngày 12/9/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Anh Tuấn

Các Thẩm phán:

Ông Bùi Trọng Danh

Ông Trần Minh Long

- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Tùng Lâm - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Lương Hồng Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa để xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 120/2023/TLPT-HS ngày 11 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo Trương Thị Vân A do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 55/2023/HS-ST ngày 01/6/2023 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

Bị cáo: Trương Thị Vân A, sinh ngày 08/5/1987 tại Yên Bái; nơi ĐKTT: Số 50 đường B, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội; chỗ ở: Số 52 ngõ 12 B, phường B, quận L, Thành phố Hà Nội; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Kinh doanh tự do; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Duy H và bà Nguyễn Thị H; có chồng và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, sơ thẩm và bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 19 giờ 45 phút ngày 05/10/2022, chị Thái Thị Cẩm G (sinh năm 1986; trú tại số 20 N, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng) sử dụng ứng dụng mobile banking dự định chuyển 314.500.000 đồng từ tài khoản số 19131739296011 của chị G mở tại Ngân hàng Techcombank chi nhánh Đà Nẵng (địa chỉ tại số 306 Nguyễn Văn Linh, phường Thạc Gián, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng) cho tài khoản số 10810816014018 của Công ty Trách nhiệm hữu hạn V (địa chỉ tại số 112 L, phường M, quận H, thành phố Hà Nội) mở tại Ngân hàng Techcombank để thanh toán tiền hàng nhưng đã chuyển nhầm vào tài khoản số 19024155214012 của Trương Thị Vân A cũng mở tại Ngân hàng Techcombank. Sau khi biết đã chuyển tiền nhầm, chị G chuyển khoản thêm 50.000 đồng vào tài khoản Vân A kèm theo nội dung “Mình chuyển nhầm số tiền 314 triệu, nhờ chuyển lại giúp vào tài khoản 19131739296011 tên Thái Thị Cẩm G 0912.797.667” nhưng Vân A nhận, không liên lạc và không trả lại tiền.

Sáng ngày 06/10/2022, chị G đến Ngân hàng Techcombank chi nhánh Đà Nẵng để nhờ hỗ trợ thu hồi tiền đã chuyển nhầm. Nhân viên ngân hàng liên lạc với số điện thoại 0933.996.200 đã đăng ký tài khoản số 19024155214012 thì Vân A tự xưng là chị của Trương Thị Vân A thông báo là Vân A đang ở nước ngoài, sau Tết mới về Việt Nam. Chị G nhắn tin vào số điện thoại 0933.996.200 nói việc chuyển nhầm tiền và đề nghị trả lại tiền thì Vân A tiếp tục tự xưng chị gái Trương Thị Vân A đưa thông tin gian dối là đang ở Úc, sau Tết mới về Việt Nam. Sau đó, Vân A dùng tài khoản zalo tên “Phong Thuỷ C” kết bạn với chị G, tự xưng là Trương Thị Vân A tiếp tục nhắn tin gian dối với chị G là đang ở nước ngoài, qua Tết mới về Việt Nam và cần phải xác minh tài khoản gửi nhầm rồi mới trả lại tiền. Chiều ngày 06/10/2022, Vân A đã sử dụng điện thoại di động Iphone 11 thực hiện 3 lần chuyển khoản bằng mobile banking với tổng số tiền 114.056.000 đồng (trong số 314.500.000 đồng nói trên) từ tài khoản số 19024155214012 mở tại Ngân hàng Techcombank vào tài khoản số 2712140899999 của Vân A mở tại Ngân hàng Quân đội để trả nợ, tiêu xài cá nhân.

Ngày 07/10/2022, chị G đến Phòng Cảnh sát Kinh tế Công an thành phố Đà Nẵng trình báo sự việc. Phòng Cảnh sát Kinh tế Công an thành phố Đà Nẵng xác minh, yêu cầu Ngân hàng Techcombank, Ngân hàng Quân đội tạm dừng giao dịch đối với 2 tài khoản nêu trên của Trương Thị Vân A.

Quá trình điều tra, Trương Thị Vân A đã khai nhận toàn bộ hành vi chiếm đoạt tiền của chị Thái Thị Cẩm G như đã nêu trên.

Trách nhiệm dân sự: Ngày 02 và 03/11/2022, Trương Thị Vân A đến Ngân hàng Techcombank, Ngân hàng Quân đội, Hà Nội chuyển trả lại 205.776.507 đồng cho chị G. Ngày 03, 04/3/2023, anh Đinh Thanh N (sinh năm: 1990; trú tại: 52-54 ngõ 12 B, quận L, Hà Nội - là chồng của Vân A chuyển khoản 02 lần 100.000.000 đồng trả cho chị G, còn lại 8.773.493 đồng, chị G tặng cho và xin giảm nhẹ hình phạt cho Vân A.

Tại Bản án sơ thẩm số 55/2023/HS-ST ngày 01/6/2023 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã quyết định:

Căn cứ: khoản 2 Điều 176; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Trương Thị Vân A 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Chiếm giữ trái phép tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo bản án.

Ngày 01/6/2023, bị cáo Trương Thị Vân A có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng có quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:

- Về thủ tục: Đơn kháng cáo của bị cáo Trương Thị Vân A là hợp lệ.

- Về nội dung: Bản án hình sự sơ thẩm số 55/2023/HS-ST ngày 01/6/2023 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê đã xét xử bị cáo Trương Thị Vân A về tội “Chiếm giữ trái phép tài sản” theo khoản 2 Điều 176 Bộ luật hình sự là có cơ sở và mức án mà Tòa cấp sơ thẩm đã quyết định 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù là phù hợp, nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bị cáo Trương Thị Vân A giữ nguyên nội dung kháng cáo, xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trương Thị Vân A khai nhận: khi biết chị Thái Thị Cẩm G chuyển nhầm số tiền 314.500.000đ vào tài khoản (số 19024155214012) của mình mở tại Ngân hàng Techcombank vào lúc 19 giờ 45 phút ngày 05/10/2022 và có gửi tin nhắn gửi nhầm, nhờ chuyển trả lại giúp, nhưng bị cáo không liên lạc, không trả lại tiền. Mặc dù ngay sau đó phía Ngân hàng Techcombank và chị G thông báo về việc chuyển nhầm và yêu cầu được nhận lại tài sản nhưng Trương Thị Vân A nói dối đang ở nước ngoài, cố tình không trả lại tiền. Đến chiều ngày 06/10/2022, Vân A đã sử dụng điện thoại di động Iphone 11 thực hiện 3 lần chuyển khoản bằng mobile banking với tổng số tiền 114.056.000 đồng (trong số 314.500.000 đồng nói trên) từ tài khoản số 19024155214012 mở tại Ngân hàng Techcombank vào tài khoản số 2712140899999 của Vân A mở tại Ngân hàng Quân đội để trả nợ, tiêu xài cá nhân.

Với hành vi trên, Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã xét xử bị cáo Trương Thị Vân A về tội “Chiếm giữ trái phép tài sản” khoản 2 Điều 176 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo của bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Do đó, cần phải xử phạt đối với bị cáo một mức hình phạt tương xứng, nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân bị cáo, qua đó áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ Luật Hình sự năm và xử phạt bị cáo 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù là phù hợp. Mặc dù sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo có tình tiết giảm nhẹ mới là có thai (6 tuần 2 ngày tính đến ngày 17/8/23) nhưng hình phạt Tòa án sơ thẩm đã quyết định là ương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Do Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Xử: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trương Thị Vân A; giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

2. Căn cứ khoản 2 Điều 176; điểm b, n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Trương Thị Vân A 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Chiếm giữ trái phép tài sản. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Trương Thị Vân A phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ