vanban.org

Bản án 153/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 19/09/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 19/09/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, xử:

Không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị cáo Hoàng T, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 37/2023/HS-ST ngày 11/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. [2] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "HSPT - phạm tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm (điều 155 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, xử:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử phạt; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự xử phạt; Điều 190 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 153/2023/HS-PT
Ngày: 19/9/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Khắc Hoàng

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hà Ngân; Ông Bùi Minh Thư.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Cẩm Vân, Thư ký Tòa án tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Trần Tiến Dũng - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử công khai trực tuyến vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 120/2023/TLPT - HS ngày 18/ 8/ 2023 đối với bị cáo Hoàng T do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 37/2023/HS-ST ngày 11/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 119/2023/QĐXXPT-HS ngày 05/9/2023 đối với:

- Bị cáo có kháng cáo: Họ và tên: Hoàng T, sinh ngày: 13/01/1991 tại xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: K, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Kinh doanh vận tải; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Ngọc T1 (đã chết) và bà Hà Thị T2, sinh năm 1969; có vợ là Nguyễn Thị L, sinh năm 1999 và 01 đứa con, 02 tuổi; Tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/02/2023 cho đến nay.

Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an H. Bị cáo có m t tại phiên tòa điểm cầu Trại tạm giam Công an tỉnh H.

Trong vụ án còn có người có nghĩa vụ liên quan khác nhưng không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên không triệu tập đến phiên tòa.

* Người tham gia tố tụng khác: Cán bộ, chiến sỹ dẫn giải bị cáo tại điểm cầu thành phần Trại Tạm giam Công an tỉnh H: Tổ trưởng, đại úy Nguyễn Văn T3 cùng các đ ng chí Hoàng Trọng D, Nguyễn Xuân C, Nguyễn Trường L1, Nguyễn Văn L2 - thành viên Tổ dẫn giải, có m t.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong h sơ vụ án, bản án sơ thẩm nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 15/02/2023, tại đường Q, đoạn qua địa phận thôn X, xã Q, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh, Công an huyện H, phối hợp với các lực lượng chức năng tiến hành dừng xe ô tô biển kiểm soát L đang lưu thông hướng từ huyện H đi về huyện Đ để kiểm tra. Người điều khiển phương tiện trình bày họ tên là Đậu Thanh S, sinh năm 1975, trú tại thôn N, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, những người đi cùng trên xe g m có Hoàng T, sinh năm 1991 và Hoàng Trung T4, sinh năm 1995 đều trú tại khối N, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Tổ công tác yêu cầu Đậu Thanh S điều khiển xe cùng những người liên quan về Công an huyện H, tỉnh Hà Tĩnh để làm việc. Tiến hành kiểm tra xe ô tô biển kiểm soát Lào 3555 phát hiện trong học dưới giường nằm thứ nhất phía trước bên phải có 14 khối hình hộp tương tự nhau, kích thước mỗi khối khoảng (14 x 14 x 10)cm, bên ngoài bọc giấy có in chữ nước ngoài và hoa văn nhiều màu sắc. Trong học dưới giường nằm thứ nhất, phía trước bên trái có 19 khối hình hộp tương tự nhau, kích thước mỗi khối khoảng (14 x 14 x 10)cm, bên ngoài bọc giấy có in chữ nước ngoài và hoa văn nhiều màu sắc và một khối hộp hình bầu dục, đường kính chổ rộng nhất khoảng 17cm, bên ngoài có dán giấy màu vàng trắng in chữ nước ngoài, một đầu có gắn dây màu vàng xanh dài khoảng 100cm. Trong cốp đựng đ phía dưới sàn xe có 02 bì xác rắn màu trắng bên trong mỗi bì đựng 01 thùng Carton màu vàng, kích thước khoảng (30 x 30 x 60)cm, bên trong mỗi thùng Carton có 24 khối hình hộp tương tự nhau, kích thước mỗi khối khoảng (14 x 14 x 10)cm, bên ngoài bọc giấy có in chữ nước ngoài và hoa văn nhiều màu sắc. Hoàng T khai nhận 81 khối hình hộp nói trên là pháo hoa nổ loại 36 quả và khối hình bầu dục là pháo Dừa. Toàn bộ số pháo này T mua ở Lào để đưa về Việt Nam bán kiếm lời. Kiểm tra trên người của T phát hiện, thu giữ 01 Giấy phép liên vận V - Lào số 021513, 01 hộ chiếu số C 7967094 mang tên Hoàng T. Xét thấy hành vi của Hoàng T là vi phạm pháp luật nên tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong vật chứng.

Tại bản Kết luận giám định số: 272/KL-KTHS, ngày 21/02/2023 của Phòng K Công an tỉnh H kết luận:

+ 14 khối hình hộp tương tự nhau, kích thước mỗi khối (14 x 14 x 10)cm, bên ngoài mỗi khối có bọc giấy có in chữ nước ngoài và hoa văn nhiều màu sắc, bên trong mỗi vật có 36 quả hình trụ tròn bằng giấy liên kết với nhau (ký hiệu M1) gửi giám định là pháo, có đầy đủ đ c tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích ho c đốt có gây tiếng nổ), có khối lượng 16,5kg.

+ 19 khối hình hộp tương tự nhau, kích thước mỗi khối (14 x 14 x 10)cm, bên ngoài mỗi khối có bọc giấy có in chữ nước ngoài và hoa văn nhiều màu sắc, bên trong mỗi vật có 36 quả hình trụ tròn bằng giấy liên kết với nhau (ký hiệu M2) gửi giám định là pháo, có đầy đủ đ c tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích ho c đốt có gây tiếng nổ), có khối lượng 22,8kg.

+ 01 khối hình bầu dục, đường kính chổ rộng nhất 17cm, bên ngoài có dán giấy màu vàng trắng in chữ nước ngoài, một đầu có gắn dây màu vàng xanh dài khoảng 100cm (ký hiệu M3) gửi giám định là pháo, có đầy đủ đ c tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích ho c đốt có gây tiếng nổ), có khối lượng là 0,9kg.

+ 48 khối hình hộp tương tự nhau, kích thước mỗi khối (14 x 14 x 10)cm, bên ngoài mỗi khối có bọc giấy có in chữ nước ngoài và hoa văn nhiều màu sắc, bên trong mỗi vật có 36 quả hình trụ tròn bằng giấy liên kết với nhau (ký hiệu M4) gửi giám định là pháo, có đầy đủ đ c tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích ho c đốt có gây tiếng nổ), có khối lượng 57,8kg.

Quá trình điều tra xác định được: Hoàng Trung T4 được ông Sỷ S1 Mỏn Thăm Mạ Vông, Giám đốc Công ty TNHH MTV V1 và Hành khách qua biên giới, có địa chỉ tại bản V, huyện X, thủ đô V, Lào, thuê lái xe ô tô nhãn hiệu Huyndai, màu trắng xám, mang biển kiểm soát L để kinh doanh vận tải, đưa đón khách từ thành phố V, Lào đến huyện D, tỉnh Nghệ An và ủy quyền cho T4 quản lý, sử dụng chiếc xe này. Sau đó, T4 giao chiếc xe này cho anh trai là Hoàng T, sinh năm 1991 quản lý, sử dụng và T thuê anh Đậu Thanh S, sinh năm 1975, trú tại xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An làm lái xe, còn bản thân mình đi theo làm phụ xe. Ngày 12/02/2023, khi đang chờ đón khách ở thành phố V, Lào, T g p hai người đàn ông người Lào làm nghề bốc hàng thuê tại khu vực bãi phế liệu. T nhờ hai người này mua giúp 8.000.000 Kíp (tương đương khoảng 10.200.000 VNĐ), pháo hoa nổ, loại 36 quả với mục đích đưa về Việt Nam bán kiếm lời. Những người này đ ng ý, hẹn hai ngày sau lấy pháo tại cửa hàng P ở thành phố V, Lào, sau đó T đi về Việt Nam. Khoảng 23 giờ, ngày 13/02/2023, Đậu Thanh S điều khiển xe biển kiểm soát L cùng với T và Hoàng Trung T4 đón khách từ huyện D, tỉnh Nghệ An đi lên Cửa khẩu Quốc tế C1, tỉnh Hà Tĩnh làm thủ tục xuất cảnh sang Lào. Khoảng 21 giờ, ngày 14/02/2023, sau khi trả khách tại bến xe V, Lào thì anh S nghỉ tại bến còn T điều khiển xe cùng T4 đến cửa hàng P. Tại đây khi T4 đang ở trong cửa hàng phế liệu, T g p hai người Lào gửi mua pháo trước đó. Hai người này đưa cho T 02 bì xác rắn màu trắng, bên trong mỗi bì đựng 01 thùng Carton màu vàng, bên trong mỗi thùng đựng 24 hộp pháo hoa loại 36 quả; 01 thùng Carton màu vàng bên trong đựng 33 hộp pháo hoa loại 36 quả và 01 quả pháo Dừa. T cùng hai người này cất 02 bì xác rắn màu trắng đựng 02 thùng pháo vào trong cốp đựng đ xe ô tô biển số Lào 3555, còn thùng Carton màu vàng đựng 33 hộp pháo loại 36 quả và quả pháo D1, T chia ra cất giấu trong hộc phía dưới giường xe. Khoảng 23 giờ cùng ngày, T và T4 quay lại bến xe V đổi lái cho anh S và đón khách đi về Cửa khẩu Quốc tế C làm thủ tục nhập cảnh về Việt Nam. Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 15/02/2023, khi anh Đậu Thanh S điều khiển xe biển kiểm soát Lào 3555 về đến xã Q, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh thì bị lực lượng chức năng kiểm tra, phát hiện, thu giữ toàn bộ số pháo do T cất dấu trước đó.

Vật chứng thu giữ:

+ 14 khối hình hộp tương tự nhau, kích thước mỗi khối (14 x 14 x 10)cm, bên ngoài mỗi khối có bọc giấy có in chữ nước ngoài và hoa văn nhiều màu sắc, có khối lượng 16,5kg (sau khi lấy mẫu giám định còn 16,38kg) toàn bộ được niêm phong trong một thùng Carton màu nâu, kích thước (40 x 33 x 44)cm;

+ 19 khối hình hộp tương tự nhau, kích thước mỗi khối (14 x 14 x 10)cm, bên ngoài mỗi khối có bọc giấy có in chữ nước ngoài và hoa văn nhiều màu sắc, có khối lượng 22,8kg (sau khi lấy mẫu giám định còn 22,68kg) toàn bộ được niêm phong trong một thùng Carton màu nâu, kích thước (41 x 41 x 30)cm;

+ 01 khối hình bầu dục, đường kính chổ rộng nhất 17cm, bên ngoài có gián giấy màu vàng trắng in chữ nước ngoài, một đầu có gắn dây màu vàng xanh dài khoảng 100cm, có tổng khối lượng 0,9kg (đã lấy hết để giám định);

+ 48 khối hình hộp tương tự nhau, kích thước mỗi khối (14 x 14 x 10)cm, bên ngoài mỗi khối có bọc giấy có in chữ nước ngoài và hoa văn nhiều màu sắc, có khối lượng 57,8kg (sau khi lấy mẫu giám định còn 57,68kg) toàn bộ được niêm phong trong một thùng Carton màu nâu, kích thước (30 x 30 x 60)cm;

+ 02 bì xác rắn màu trắng; 02 thùng Carton màu vằng, mỗi thùng có kích thước (30 x 30 x60)cm; 01 hộ chiếu số C 7967094 mang tên Hoàng T.

Toàn bộ những vật chứng này đã được Cơ quan điều tra chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hương Sơn cất giữ để giải quyết theo quy định của pháp luật.

+ 01 xe ô tô nhãn hiệu Huyndai, màu trắng xám, mang biển kiểm soát L, đã qua sử dụng, trên xe không có tài sản gì và 01 giấy phép liên vận Việt Lào số 021513. Vật chứng này đã được Cơ quan điều tra trả lại cho chủ sở hữu.

Với hành vi phạm tội nêu trên, tại bản án hình sự sơ thẩm số 37/2023/HS-ST ngày 11/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh đã quyết định:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

Căn cứ vào điểm g, k khoản 2 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự xử phạt bị cáo Hoàng T 05 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/02/2023.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Trong hạn luật định, ngày 26/5/2023 bị cáo Hoàng T kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tại phiên tòa sau khi tóm tắt nội dung vụ án, đánh giá, phân tích tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đ ng xét xử phúc thẩm: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 BLTTHS không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Hoàng T, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 37/2023/HS-ST ngày 11/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đ ng xét xử nhận định như sau:

Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định nên được chấp nhận xem xét.

Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến ho c khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Hoàng T khai nhận và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người liên quan, người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có tại h sơ trong h sơ vụ án. Do đó đủ căn cứ kh ng định: Vào khoảng 15 giờ 30 phút, ngày 15/02/2023, tại tại đường Q, đoạn qua địa phận thôn X, xã Q, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh, H đã bị lực lượng chức năng bắt quả tang khi đang vận chuyển 98kg pháo (có chứa thuốc pháo, khi bị kích thích ho c đốt có gây tiếng nổ), mà trước đó Hoàng T đã mua từ nước Lào để đưa về Việt Nam với mục đích bán để thu lợi nhuận. Với trọng lượng pháo nổ bị cáo mua bán là 98kg và bị cáo buôn bán qua biên giới thì hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm g, k khoản 2 Điều 190 Bộ luật hình sự. Vì vậy bản án hình sự sơ thẩm số 37/2023/HS-ST ngày 11/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh quyết định tuyên bố bị cáo Hoàng T phạm tội “Buôn bán hàng cấm” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét nội dung kháng cáo yêu cầu xem xét giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, Hội đ ng xét xử xét thấy:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế mà cụ thể là xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, sản xuất, kinh doanh hàng cấm, ảnh hưởng đến tình hình trật tự tại địa phương. Do đó, cần phải xử lý nghiêm mới đảm bảo tính giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm.

Bị cáo Hoàng T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vì lợi nhuận, lợi ích cá nhân đã bất chấp pháp luật trực tiếp mua pháo nổ từ Lào đưa về Việt Nam tiêu thụ để kiếm lời. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, thừa nhận bản án sơ thẩm xét xử bị cáo về tội danh theo điểm, khoản, điều luật nói trên là là đúng pháp luât, không oan sai. Bị cáo không yêu cầu Hội đ ng xét xử làm r thêm bất k tình tiết nội dung nào của vụ án mà chỉ đề nghị Hội đ ng xét xử xem xét hoàn cảnh bị cáo khó khăn để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với gia đình, xã hội. Hội đ ng xét xử xét thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng. Với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân, hoàn cảnh bị cáo đã được cấp sơ thẩm xem xét đầy đủ và xử phạt bị cáo mức án 05 năm tù là đã có phần chiếu cố, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không xuất trình được thêm các tình tiết gì mới. Vì vậy Hội đ ng xét xử không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo và cần giữ nguyên bản án sơ thẩm số 37/2023/HS-ST ngày 11/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.

Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự , điểm c khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thảm theo quy định của pháp luật.

các trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, xử:

Không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị cáo Hoàng T, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 37/2023/HS-ST ngày 11/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.

[2] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng T phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

[3] Về hình phạt: Áp dụng điểm g, k khoản 2 Điều 190; điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Hoàng T 05 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/02/2023.

[4] Về án phí: Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự LTTHS; điểm c khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đ ng án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ