vanban.org

Bản án 153/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Trâm A đối với ông Nguyễn Tuân H về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Phan Thị Trâm A được ly hôn với ông Nguyễn Tuân H (Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 23, quyển số 01/2014, đăng ký ngày 22/4/2014 tại UBND phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng). Về con chung: Giao con chung Nguyễn Phan Thảo N, sinh ngày: 09/7/2015 cho bà Phan Thị Trâm A t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn giữa bà Phan Thị Trâm A với ông Nguyễn Tuân H"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Trâm A đối với ông Nguyễn Tuân H về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN CẨM LỆ - TP ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 153/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 19-5-2023
v/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Thanh Tuyền

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Mai Văn Du

Ông Trần Đức Hiếu

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Dự là thư ký của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng: Bà Nguyễn Thị Thanh Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 5 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 26/2023/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 02 năm 2023 về việc: “Ly hôn và tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 41/2023/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2023, giữa:

1. Nguyên đơn: Bà Phan Thị Trâm A, sinh năm: 1981. Nơi ĐKHKTT: K177/H05/09B đường L, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Chỗ ở hiện nay: K20/29 đường H, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng (Có mặt).

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Tuân H, sinh năm: 1987. Địa chỉ: K177/H05/09B đường L, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng (Vắng mặt lần thứ hai không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện đề ngày 07/02/2023, bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Phan Thị Trâm A trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Tuân H tự nguyện kết hôn vào năm 2013, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại địa chỉ: Tổ 32 phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Trong quá trình chung sống vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn vào khoảng năm 2020. Nguyên nhân là do vợ chồng không có sự tin tưởng lẫn nhau, ông H luôn nghi ngờ bà ngoại tình, mâu thuẫn về kinh tế tiền bạc nên vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau. Từ đầu tháng 12/2022 bà đã dẫn con chung và con riêng của ông H về nhà mẹ bà sinh sống tại địa chỉ: K20/29 đường H, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng. Vợ chồng đã sống ly thân từ đó cho đến nay. Bà xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, vợ chồng không còn tình cảm nên bà yêu cầu Tòa án cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Tuân H.

Về con chung: Bà Phan Thị Trâm A xác định vợ chồng bà có 01 con chung: Nguyễn Phan Thảo N, sinh ngày: 09/7/2015. Ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Phan Thảo N và yêu cầu ông Nguyễn Tuân H cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 2.000.000 (Hai triệu đồng) đến khi con chung được 18 tuổi.

Về tài sản chung: Bà Phan Thị Trâm A xác định tài sản chung của vợ chồng gồm nhà và đất tại địa chỉ: K177/H05/09B đường L, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng và yêu cầu được nhận 50% giá trị tài sản chung. Tuy nhiên, hiện nay bà không yêu cầu tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà Phan Thị Trâm A xác định không có.

Đối với bị đơn ông Nguyễn Tuân H : Mặc dù ông Nguyễn Tuân H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng như: Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông Nguyễn Tuân H vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phan Thị Trâm A .

* Phát biểu của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng trình tự quy định của pháp luật. Đối với các đương sự: Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, bị đơn chưa thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Quan điểm giải quyết vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phan Thị Trâm A đối với ông Nguyễn Tuân H .

Về con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu Nguyễn Phan Thảo N, sinh ngày: 09/7/2015 cho bà Phan Thị Trâm A trực tiếp nuôi dưỡng và ông Nguyễn Tuân H phải cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng.

Về tài sản chung: Bà Phan Thị Trâm A không yêu cầu tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Bà Phan Thị Trâm A xác định không có nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn và bị đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Theo đơn khởi kiện đề ngày 07/02/2023 thì nguyên đơn khởi kiện đối với bị đơn để xin ly hôn và nuôi con, không yêu cầu giải quyết về tài sản chung và không có nợ chung. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình, quan hệ pháp luật tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Về thẩm quyền: Bị đơn ông Nguyễn Tuân H có địa chỉ tại: K177/H05/09B đường L, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Do đó, căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, tranh chấp phát sinh giữa nguyên đơn và bị đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.

Bị đơn ông Nguyễn Tuân H đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Nguyễn Tuân H .

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân:

Bà Phan Thị Trâm A và ông Nguyễn Tuân H tự nguyện kết hôn vào năm 2013, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 23, quyển số 01/2014, đăng ký ngày 22/4/2014. Do đó, hôn nhân giữa ông Nguyễn Tuân H và bà Phan Thị Trâm A là hợp pháp, được nhà nước công nhận và bảo vệ. Xét yêu cầu ly hôn của bà Phan Thị Trâm A , HĐXX nhận thấy: Theo xác minh tại nơi cư trú của ông Nguyễn Tuân H và bà Phan Thị Trâm A thể hiện: Trong quá trình chung sống vợ chồng ông H và bà A có xảy ra mâu thuẫn. Hơn nữa, trong suốt quá trình giải quyết vụ án, mặc dù Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông Nguyễn Tuân H vẫn không đến Tòa án để tham gia tố tụng hay để Tòa án tiến hành hòa giải. Điều này chứng tỏ ông Nguyễn Tuân H bỏ mặc, không quan tâm và không muốn tiếp tục duy trì mối quan hệ hôn nhân giữa ông và bà Phan Thị Trâm A . Xét thấy mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân giữa bà Phan Thị Trâm A và ông Nguyễn Tuân H đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ vào Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà Phan Thị Trâm A được ly hôn với ông Nguyễn Tuân H .

Về con chung:

Bà Phan Thị Trâm A xác định vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Phan Thảo N, sinh ngày: 09/7/2015. Xét yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung của nguyên đơn, HĐXX nhận thấy: Theo bản ý kiến trình bày của cháu Nguyễn Phan Thảo N thể hiện nguyện vọng của cháu là ở với mẹ. Hơn nữa bản thân cháu là con gái nên cần sự chăm sóc của mẹ trong quá trình trưởng thành. Vì vậy, việc giao cháu Nguyễn Phan Thảo N cho bà Phan Thị Trâm A trực tiếp nuôi dưỡng là hợp lý và đảm bảo quyền, lợi ích về mọi mặt cũng như để ổn định cuộc sống của cháu. Do đó, căn cứ Điều 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình, HĐXX chấp nhận yêu cầu của bà Phan Thị Trâm A về việc giao con chung Nguyễn Phan Thảo N cho bà trực tiếp nuôi dưỡng.

Đối với yêu cầu buộc ông Nguyễn Tuân H cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng: HĐXX xét thấy mức cấp dưỡng bà Phan Thị Trâm A yêu cầu là phù hợp cho việc nuôi dưỡng, học hành, nhu cầu thiết yếu của con chung. Do đó, căn cứ Điều 116, 117 Luật hôn nhân và gia đình, HĐXX chấp nhận yêu cầu của bà Phan Thị Trâm A về mức cấp dưỡng nuôi con.

Quá trình nuôi dưỡng con chung, nếu xét thấy cần thiết, ông Nguyễn Tuân H và bà Phan Thị Trâm A đều có quyền yêu cầu Toà án có thẩm quyền giải quyết về thay đổi người trực tiếp nuôi con chung cũng như việc cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Tại đơn khởi kiện, bà Phan Thị Trâm A xác định tài sản chung của vợ chồng là nhà và đất tại địa chỉ: K177/H05/09B đường L, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng và bà yêu cầu được nhận 50% giá trị tài sản chung. Tuy nhiên, quá trình Tòa án tiến hành thủ tục thụ lý thì bà không yêu cầu tòa án giải quyết. Do đó, HĐXX không xem xét giải quyết.

Về nợ chung: Bà Phan Thị Trâm A xác định không có nên HĐXX không xem xét giải quyết

Về đề nghị của đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng về việc giải quyết vụ án: HĐXX nhận thấy đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng phù hợp với phân tích nêu trên nên HĐXX chấp nhận.

Về án phí: Nguyên đơn bà Phan Thị Trâm A phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Bị đơn ông Nguyễn Tuân H phải chịu 300.000 đồng án phí của người có nghĩa vụ cấp dưỡng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

- Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 272 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Điều 56, 81, 82, 83, 116, 117 Luật hôn nhân và gia đình;

- Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị Trâm A đối với ông Nguyễn Tuân H về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Phan Thị Trâm A được ly hôn với ông Nguyễn Tuân H (Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 23, quyển số 01/2014, đăng ký ngày 22/4/2014 tại UBND phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng).

2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Phan Thảo N, sinh ngày: 09/7/2015 cho bà Phan Thị Trâm A trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Tuân H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Cả hai bên đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung. Bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, bên trực tiếp nuôi con không được quyền ngăn cản. Khi cần thiết có quyền yêu cầu Toà án có thẩm quyền giải quyết về thay đổi người trực tiếp nuôi con chung cũng như việc cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về tài sản chung: Bà Phan Thị Trâm A không yêu cầu tòa án giải quyết.

4. Về nợ chung: Bà Phan Thị Trâm A xác định không có.

5. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:

Bà Phan Thị Trâm A phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0009339 ngày 16/02/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng. Bà Phan Thị Trâm A đã nộp đủ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Ông Nguyễn Tuân H phải chịu án phí của người có nghĩa vụ cấp dưỡng là 300.000 đồng.

6. Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ