- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Đ - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự, hình phạt:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 153/2022/HS-ST Ngày 20 - 12 - 2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Phạm Thu Trang
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Hoàng Văn Ngân
2. Bà Vũ Thị Hoà
- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Anh Tùng - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Trịnh Ngọc Thạch - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 168/2022/TLST - HS ngày 29 tháng 11 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 156/2022/QĐXXST- HS ngày 09 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn Đ - Sinh ngày 10/01/1991 tại thành phố L, tỉnh Lào Cai.
Nơi cư trú: Tổ 13A, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai
Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Đ - Sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị L - Sinh năm 1970; Vợ là Hoàng Hồng N - Sinh năm 1994 (Đã ly hôn); Bị cáo có 01 con sinh năm 2015; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Bị cáo là đối tượng thường xuyên sử dụng chất ma tuý.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/11/2022. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố Lào Cai. “Có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 15/11/2022, Nguyễn Văn Đ điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 24B2 - 620.66 đi từ nhà tại tổ 13A, phường Bình Minh, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai đến khu vực tổ 09, phường Bình Minh, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai mục đích tìm mua ma tuý về sử dụng cho bản thân. Tại đây, Nguyễn Văn Đ gặp một người nam giới (không biết tên, tuổi, địa chỉ) đứng ở ven đường, Nguyễn Văn Đ hỏi người nam giới “Có hêrôin không, bán cho hai trăm”, người nam giới trả lời “Có, đưa tiền đây”. Nguyễn Văn Đ đưa cho người nam giới số tiền 200.000 đồng. Người nam giới cầm tiền rồi đưa lại cho Nguyễn Văn Đ 04 gói giấy bạc. Nguyễn Văn Đ biết đó là ma tuý nên cầm trong lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe mô tô về nhà. Khoảng 20 giờ 10 phút cùng ngày, khi Nguyễn Văn Đ đang điều khiển xe trên đường tại khu vực tổ 09, phường Bình Minh, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai thì bị Tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an thành phố Lào Cai yêu cầu kiểm tra. Nguyễn Văn Đ dừng xe, bỏ chạy được khoảng 02 mét thì thả 04 gói ma tuý ở lòng bàn tay xuống đường và bị tổ công tác bắt giữ. Trước sự có mặt của người chứng kiến, Nguyễn Văn Đ đã tự nhặt từ dưới đường tại vị trí đang đứng lên giao nộp cho tổ công tác 04 gói giấy bạc, mở kiểm tra bên trong các gói đều chứa chất bột khô màu trắng, vón cục. Nguyễn Văn Đ khai nhận đây là các gói ma tuý Hêrôin của Nguyễn Văn Đ vừa mua được, mục đích cất giấu để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác dẫn giải Nguyễn Văn Đ cùng vật chứng, phương tiện về trụ sở Công an phường Pom Hán lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng theo quy định.
Tạm giữ của bị cáo: 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, biển kiểm soát 24B2-820.66, số khung RLHJF7923LZ007203, số máy JF89E0165400 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, số seri 356338053234492, điện thoại cũ đã qua sử dụng.
Ngày 16/11/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Lào Cai đã ra quyết định trưng cầu giám định số 282 đối với chất bột khô, màu trắng, vón cục thu giữ của Nguyễn Văn Đ ngày 15/11/2022.
Tại biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, trích mẫu, tái niêm phong và giao nhận đối tượng giám định ngày 16/11/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Lào Cai và Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai xác định: Bên trong bì niêm phong có 04 gói giấy bạc, bên trong mỗi gói đều chứa chất bột khô, màu trắng, vón cục. Tổng khối lượng số chất bột khô, màu trắng, vón cục trong 04 gói trên là 0,17 gam, trích mẫu 0,05 gam để tiến hành giám định, còn lại 0,12 gam hoàn lại cơ quan trưng cầu.
Tại Kết luận giám định số 315/KL - GĐMT ngày 18/11/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai đã kết luận: 0,17 (không phẩy mười bảy) gam chất bột khô, màu trắng, vón cục thu giữ của Nguyễn Văn Đ ngày 15/11/2022 do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Lào Cai gửi đến giám định là loại chất ma túy Heroine (Hêrôin).
Cáo trạng số 159/CT-VKS ngày 28/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội danh theo bản cáo trạng đã truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, xử phạt bị cáo với mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Không phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,12 gam Heroine còn lại sau trích mẫu giám định; Tạm giữ của bị cáo và 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, số seri 356338053234492 để đảm bảo thi hành án.
Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Lào Cai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh và hình phạt: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, tang vật thu giữ và kết luận giám định. Nguyễn Văn Đ là người có năng lực trách nhiệm hình sự, hiểu biết xã hội và pháp luật, nhận thức được tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vào ngày 15/11/2022 Nguyễn Văn Đ đã có hành vi mua ma túy về mục đích để sử dụng cho bản thân và bị tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an thành phố Lào Cai phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ tang vật. Theo kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai, số ma túy thu giữ được của bị cáo Nguyễn Văn Đ có tổng khối lượng là 0,17 gam Hêrôin. Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy cần phải xét xử một mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục, cải tạo và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn Đ không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn Đ đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình. Vì vậy cần xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa, bị cáo không có việc làm ổn định, là đối tượng nghiện ma túy nên không có tài sản và thu nhập gì. Vì vậy không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án:
Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo 04 gói ma túy có tổng khối lượng là 0,17 gam Hêrôin, sau khi trích mẫu giám định còn lại 0,12 gam Hêrôin đã được tái niêm phong cần tịch thu tiêu hủy theo quy định.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, số seri 356338053234492, xét thấy bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội nhưng do bị cáo còn phải thực hiện nghĩa vụ nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm nên cần tạm giữ chiếc điện thoại trên để đảm bảo thi hành án.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, biển kiểm soát 24B2-820.66, số khung RLHJF7923LZ007203, số máy JF89E0165400, quá trình điều tra xác định chiếc xe trên là của anh Lương Văn T - Sinh năm 1987, trú tại tổ 13A, phường Bình Minh, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai là anh họ của Nguyễn Văn Đ cho Nguyễn Văn Đ mượn xe. Anh Lương Văn T không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của Nguyễn Văn Đ nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý. Ngày 24/11/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Lào Cai đã trả lại cho anh Lương Văn T chiếc xe trên là phù hợp.
Về các vấn đề khác liên quan trong vụ án:
Đối với người nam giới đã bán ma tuý cho Nguyễn Văn Đ vào ngày 15/11/2022, do Nguyễn Văn Đ không biết tên, tuổi và địa chỉ của người nam giới này và chỉ có duy nhất lời khai của Nguyễn Văn Đ nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ để xử lý xét thấy là phù hợp.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự, hình phạt:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 01 (Một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/11/2022.
2. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,12 gam Hêrôin còn lại sau trích mẫu giám định cùng toàn bộ niêm phong cũ được tái niêm phong bằng bì thư in sẵn của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai.
Tạm giữ của bị cáo Nguyễn Văn Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, số seri 356338053234492, điện thoại cũ đã qua sử dụng để đảm bảo thi hành án.
(Vật chứng thể hiện tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 13 tháng 12 năm 2022 giữa Công an thành phố Lào Cai và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Lào Cai).
3. Về án phí:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; VKSND tỉnh; - Phòng PV 06 - Công an tỉnh; - Sở tư pháp; - VKSNDTPLC; CATPLC; - Chi cục THADSTPLC; - Cơ quan THAHSCATP; - Bị cáo; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thu Trang |