vanban.org

Bản án 153/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Cà Mau Tuyên án 07/12/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 07/12/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự:

1. Căn cứ vào điểm b khoản 2 và khoản 3 Điều 321, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo Huỳnh Thị Mai L 03 (ba) năm tù về tội “Đánh bạc”, phạt bổ sung bị cáo 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng. Thời hạn tù được tính từ ngày 12 tháng 5 năm 2022. 2. C… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Các bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 153/2022/HS-PT
Ngày: 07-12-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Quế

Các Thẩm phán:

Ông Trịnh Xuân Miễn

Ông Huỳnh Văn Út

- Thư ký phiên toà: Bà Dương Kim Yến, là Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Phạm Thanh Mộng - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 147/2022/TLPT-HS ngày 07 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo Huỳnh Thị Mai L và các bị cáo khác do có kháng cáo của bị cáo L, Trần Thanh B và Bùi Ngọc S đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2022/HS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.

- Các bị cáo có kháng cáo:

1. Huỳnh Thị Mai L, sinh năm 1988 tại Kiên Giang; nơi cư trú: Ấp T, xã Ph, thành phố R, tỉnh Kiên Giang; chỗ ở khác: Khóm 1, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn H và bà Đặng Thị H1; có chồng tên Phan Thanh H3 và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam ngày 12/5/2022 cho đến nay. Bị cáo có mặt.

2. Trần Thanh B, sinh năm 1978 tại Bạc Liêu; nơi cư trú: Ấp 8A, xã Ph, huyện Ph, tỉnh Bạc Liêu; chỗ ở khác: Ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Chạy xe ôm; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Hoàng A (đã chết) và bà Nguyễn Thị B; có vợ tên Liêu Kiều Tr và có 01 con; tiền án, tiền sự: Có 01 tiền sự (Ngày 24/3/2022, bị Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện Đầm Dơi ban hành Quyết định số 18/QĐ-XPVPHC xử phạt vi phạm hành chính 15.000.000 đồng do có hành vi làm chủ lô, đề, đã nộp phạt xong vào tháng 4/2022); bị bắt tạm giam từ ngày 17/6/2022 đến ngày 03/8/2022 được thay đổi biện pháp tạm giam bằng biện pháp bảo lĩnh cho đến nay. Bị cáo có mặt.

3. Bùi Ngọc S, sinh năm 1988 tại Đồng Tháp; nơi cư trú: Ấp T, xã Ph, huyện L, tỉnh Đồng Tháp; chỗ ở khác: Khóm 4, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn H3 và bà Lê Tuyết Ng; có chồng tên Nguyễn Thanh C và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam kể từ ngày 17/6/2022 đến ngày 03/8/2022 được thay đổi biện pháp tạm giam bằng biện pháp bảo lĩnh cho đến nay. Bị cáo có mặt.

- Bị cáo không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị (không được Tòa án triệu tập): Trương Minh H4, sinh năm 1996

Nơi cư trú: Ấp B, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 40 ngày 06/5/2022, lực lượng Công an thị trấn Đầm Dơi, huyện Đầm Dơi tiến hành kiểm tra tại phòng trọ B3 - Nhà trọ Khang An ở khóm 1, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Cà Mau do Huỳnh Thị Mai L đang thuê ở, thì phát hiện và thu giữ các vật chứng có L quan đến việc hoạt động lô đề của L.

Kết quả điều tra xác định: L hoạt động đánh bạc dưới hình thức lô đề từ ngày 25/4/2022 đến ngày 05/5/2022. Hàng ngày, L bán các con số lô, số đề cho người chơi thông qua điện thoại di động rồi sao chép ra giấy theo dõi (phơi đề), đến chiều cùng ngày đối chiếu với kết quả mở thưởng của các Công ty xổ số kiến thiết các tỉnh, thành (đài mở thưởng) để xác định thắng, thua. Đài mở thưởng ở cụm miền Nam (gồm các đài từ B Thuận trở vào, mở thưởng lúc 16 giờ 15 phút), cụm miền Trung (bao gồm các đài B Định, Quảng B và Quảng Trị, mở thưởng lúc 17 giờ 15 phút) và miền Bắc (mở thưởng lúc 18 giờ 15 phút). Tỷ lệ thắng thua được thỏa thuận đối với số đầu, đuôi là 01 thắng 70 lần (tức chơi 1.000 đồng nếu thắng được 70.000 đồng); số lô 02 con số là 01 thắng 80 lần (tức chơi 1.000 đồng/01 lô/18 lô, nếu thắng được 80.000 đồng); số lô 03 con số là 01 thắng 600 lần (tức chơi 1.000 đồng/01 lô/17 lô, nếu thắng được 600.000 đồng); số đá 02 con số là 01 thắng 600 lần (tức chơi 1.000 đồng/01 cặp số/18 lô, nếu thắng được 600.000 đồng).

Trong quá trình hoạt động, những người tham gia mua số lô, số đề gồm Bùi Ngọc S, Trần Thanh B, Trương Minh H4, Đặng Thị Nh, Huỳnh Kim H và một số người khác. Tiền mua, bán các con số lô, số đề được L và người chơi thỏa thuận cụ thể: Đối với số đầu đuôi, L lấy của người chơi là 85%; đối với số lô 02 con số là 15/18 lô và đối với số lô 03 con số ở các đài miền Nam và miền Trung (riêng đối với B thì L lấy 14,5) và 23/27 lô đối với đài miền Bắc; đối với số đá 02 con số thì tương tự như số lô 02 con số, nhưng gấp 02 lần.

* Đối với Huỳnh Thị Mai L:

- Ngày 25/4/2022: L bán số lô đề ở đài Cà Mau số lô số tiền 360.000 đồng, số đá số tiền 180.000 đồng, tổng số tiền là 540.000 đồng. Đối chiếu với kết quả mở thưởng, không có người trúng, do đó tiền dùng để đánh bạc là 540.000 đồng và thu lợi được là 450.000 đồng.

- Ngày 30/4/2022: L bán số lô đề ở các đài ở cụm đài miền Nam bao gồm Long An, Hậu Giang, B Phước và Thành phố Hồ Chí Minh, số đầu đuôi số tiền là 1.895.000 đồng, số lô số tiền là 13.050.00 đồng, tổng số tiền là 14.945.000 đồng. Đối chiếu với kết quả mở thưởng xác định người chơi đã trúng thưởng số tiền 13.200.000 đồng. Tổng số tiền dùng để đánh bạc của L là 28.145.000 đồng. Đối trừ trong ngày L đã lỗ 714.250 đồng.

- Ngày 01/5/2022: L bán số lô đề ở các đài ở cụm đài miền Nam bao gồm Tiền Giang, Kiên Giang và Lâm Đồng (Đà Lạt), số đầu đuôi số tiền là 5.510.000 đồng, số lô số tiền 8.280.000 đồng, số đá số tiền 216.000 đồng, tổng số tiền là 14.006.000 đồng. Đối chiếu với kết quả mở thưởng người chơi đã trúng thưởng 1.050.000 đồng. Tổng số tiền dùng để đánh bạc của L là 15.056.000 đồng. Sau khi đối trừ giữa số tiền L thu được của người chơi với số tiền trả thưởng, xác định trong ngày L đã thu lợi được 10.713.500 đồng.

- Ngày 02/5/20222: L bán số lô đề ở các đài ở cụm đài miền Nam bao gồm Cà Mau, Đồng Tháp và Thành phố Hồ Chí Minh, số đầu đuôi số tiền là 3.335.000 đồng, số lô 02 con số số tiền 14.580.000 đồng, số lô 03 con số số tiền 51.000 đồng, tổng tiền là 17.966.000 đồng. Đối chiếu với kết quả mở thưởng ở các đài trên, người chơi đã trúng thưởng 5.050.000 đồng. Tổng số tiền dùng để đánh bạc của L là 23.016.000 đồng

Trong ngày, B có mua của L 440.000 đồng tiền số lô ở cụm đài miền Nam, nên sau khi đối trừ giữa số tiền L thu được của người chơi với số tiền trả thưởng, xác định trong ngày L đã thu lợi được 9.759.750 đồng.

- Ngày 03/5/2022: L bán số lô đề ở các đài ở cụm đài miền Nam bao gồm Bạc Liêu, Bến Tre và Bà Rịa - Vũng Tàu, số đầu đuôi số tiền là 2.885.000 đồng, số lô 02 con số số tiền là 6.660.000 đồng, số lô 03 con số tiền 187.000 đồng, tổng số tiền là 9.732.000 đồng. Đối chiếu với kết quả mở thưởng, người chơi đã trúng thưởng số tiền 4.000.000 đồng. Tổng số tiền dùng để đánh bạc của L là 13.732.000 đồng.

B có mua của L 30.000 đồng tiền số lô ở cụm đài miền Nam, sau khi đối trừ giữa số tiền L thu được của người chơi với số tiền trả thưởng, L đã thu lợi 4.152.250 đồng.

- Ngày 04/5/2022: L bán số lô đề ở các đài ở cụm đài miền Nam bao gồm Sóc Trăng, thành phố Cần Thơ, Đồng Nai và đài miền Bắc, cụ thể:

+ Cụm đài miền Nam số đầu đuôi số tiền là 5.400.000 đồng, số lô 02 con số số tiền 13.320.000 đồng, số lô 03 con số số tiền 664.000 đồng, số đá số tiền 1.188.000 đồng, tổng tiền là 20.572.000 đồng. Đối chiếu với kết quả mở thưởng, người chơi đã trúng thưởng số tiền 39.350.000 đồng. Tổng số tiền dùng để đánh bạc của L đối với cụm đài miền Nam là 59.922.000 đồng.

B có mua của L 250.000 đồng tiền số lô ở cụm đài này, sau khi đối trừ giữa số tiền L thu được của người chơi với số tiền trả thưởng, L đã lỗ 22.225.000 đồng.

+ Đài miền Bắc gồm số lô 02 con số số tiền 5.130.000 đồng, số đá số tiền 540.000 đồng, tổng số tiền là 5.670.000 đồng. Đối chiếu với kết quả mở thưởng, không có người trúng thưởng, do đó tiền dùng để đánh bạc là 5.670.000 đồng và tiền thu lợi bất chính là 4.830.000 đồng.

Trong ngày 04/5/2022 L đã lỗ là 17.395.000 đồng.

- Ngày 05/5/2022: L bán số lô đề ở các Đài ở cụm đài miền Nam bao gồm An Giang, B Thuận, Tây Ninh; cụm đài miền Trung bao gồm B Định, Quảng B, Quảng Trị và đài miền Bắc, cụ thể:

+ Cụm đài miền Nam gồm số đầu đuôi số tiền là 2.880.000 đồng, số lô 02 con số số tiền 16.650.000 đồng, số đá số tiền 792.000 đồng, tổng số tiền là 20.322.000 đồng. Đối chiếu với kết quả mở thưởng, người chơi đã trúng thưởng 6.400.000 đồng. Tổng số tiền dùng để đánh bạc của L đối với cụm đài miền Nam là 26.722.000 đồng.

B có mua của L 165.000 đồng tiền số lô và 6.000 đồng số đá ở cụm đài này, sau khi đối trừ giữa số tiền L thu được của người chơi với số tiền trả thưởng, L đã thu lợi bất chính 10.494.500 đồng

+ Cụm đài miền Trung gồm số lô 02 con số số tiền 7.020.000 đồng. Đối chiếu với kết quả mở thưởng, người chơi đã trúng 4.800.000 đồng. Tổng số tiền dùng để đánh bạc của L là 11.820.000 đồng. Sau khi đối trừ giữa số tiền L thu được của người chơi với số tiền trả thưởng, L đã thu lợi 1.050.000 đồng.

+ Đài miền Bắc gồm số lô 02 con số, với số tiền 2.700.000 đồng. Đối chiếu với kết quả mở thưởng, không có người trúng, tiền dùng để đánh bạc là 2.700.000 đồng, tiền thu lợi 2.300.000 đồng.

Như vậy, tổng thu lợi được trong ngày 05/5/2022 của L là 13.844.500 đồng.

* Đối với Bùi Ngọc S:

- Ngày 25/4/2022: S mua ở đài Cà Mau gồm số lô 02 con số số tiền 360.000 đồng, số đá số tiền là 180.000 đồng, tổng số tiền là 540.000 đồng. Đối chiếu với kết quả mở thưởng, S không trúng thưởng, do đó tiền dùng để đánh bạc là 540.000 đồng và S bị lỗ 450.000 đồng

- Ngày 30/4/2022: S mua ở cụm đài miền Nam bao gồm Thành phố Hồ Chí Minh, Long An, B Phước và Hậu Giang số lô 02 con số số tiền 3.600.000 đồng. Đối chiếu với kết quả mở thưởng, S đã trúng thưởng 4.000.000 đồng. Tổng số tiền dùng để đánh bạc của S là 7.600.000 đồng. Sau khi đối trừ giữa số tiền đã mua với số tiền trúng thưởng, S đã thu lợi bất chính 1.000.000 đồng.

- Ngày 03/5/2022: S mua ở cụm đài miền Nam gồm Bến Tre, Bà Rịa – Vũng Tàu và Bạc Liêu, số lô 02 con số số tiền 1.080.000 đồng. Đối chiếu với kết quả mở thưởng, S đã trúng 1.600.000 đồng. Tổng số tiền dùng để đánh bạc của S là 2.680.000 đồng. Sau khi đối trừ giữa số tiền đã mua với số tiền trúng thưởng, S đã thu lợi bất chính 700.000 đồng.

- Ngày 04/5/2022: S mua ở cụm đài miền Nam bao gồm Cần Thơ, Đồng Nai, Sóc Trăng và đài Miền Bắc, cụ thể:

+ Cụm đài miền Nam gồm số lô 02 con số số tiền 2.160.000 đồng. Đối chiếu với kết quả mở thưởng, S đã trúng thưởng 1.600.000 đồng, tổng số tiền dùng để đánh bạc của S là 3.760.000 đông. Sau khi đối trừ giữa số tiền đã mua với số tiền trúng thưởng, S đã lỗ 200.000 đồng.

+ Đài miền Bắc gồm số lô 02 con số số tiền 1.080.000 đồng, 02 cặp số đá số tiền 540.000 đồng, tổng số tiền là 1.620.000 đồng. Đối chiếu với kết quả mở thưởng, S không trúng nên số tiền đánh bạc của S là 1.620.000 đồng và S đã lỗ 1.380.000 đồng.

- Ngày 05/5/2022: S mua ở cụm đài miền Nam bao gồm Tây Ninh, An Giang, B Thuận; cụm đài miền Trung bao gồm B Định, Quảng Trị, Quảng B và đài miền Bắc, cụ thể:

+ Cụm đài miền Nam gồm số lô 02 con số số tiền 7.020.000 đồng. Đối chiếu với kết quả mở thưởng, S đã trúng thưởng 3.200.000 đồng, tổng số tiền dùng để đánh bạc của S là 10.220.000 đồng. Sau khi đối trừ giữa số tiền đã mua với số tiền trúng thưởng, S đã lỗ 2.650.000 đồng.

+ Cụm miền Trung số lô 02 con số, với số tiền 3.240.000 đồng. Đối chiếu với kết quả mở thưởng, S không trúng thưởng, số tiền đánh bạc của S là 3.240.000 đồng và S đã lỗ 2.700.000 đồng

+ Đài miền Bắc số lô 02 con số, với số tiền 2.700.000 đồng. Đối chiếu với kết quả mở thưởng, S không trúng, số tiền đánh bạc của S là 2.700.000 đồng và S đã lỗ 2.300.000 đồng.

* Đối với Trần Thanh B:

- Ngày 02/5/2022: B mua ở đài Cà Mau gồm số lô 02 con số số tiền 7.920.000 đồng. Đối chiếu với kết quả mở thưởng, B không trúng thưởng, số tiền đánh bạc của B là 7.920.000 đồng và B đã lỗ 6.380.000 đồng.

- Ngày 03/5/2022: B mua ở cụm đài miền Nam bao gồm Bến Tre, Bà Rịa – Vũng Tàu, số lô 02 con số số tiền 540.000 đồng. Đối chiếu với kết quả mở thưởng, B đã trúng thưởng 800.000 đồng. Tổng số tiền dùng để đánh bạc của B là 1.340.000 đồng. Sau khi đối trừ giữa số tiền đã mua với số tiền trúng thưởng, B đã thu lợi được 365.000 đồng.

- Ngày 04/5/2022: B mua ở cụm đài miền Nam bao gồm Cần Thơ, Đồng Nai, Sóc Trăng số lô 02 con số số tiền 4.500.000 đồng. Đối chiếu với kết quả mở thưởng, B đã trúng thưởng 10.000.000 đồng. Tổng số tiền dùng để đánh bạc của B là 14.500.000 đồng. Sau khi đối trừ giữa số tiền đã mua với số tiền trúng thưởng, B đã thu lợi bất chính 6.375.000 đồng.

- Ngày 05/5/2022: B mua ở cụm đài miền Nam bao gồm Tây Ninh, An Giang, B Thuận số lô 02 con số số tiền là 2.970.000 đồng, 02 cặp số đá số tiền 216.000 đồng, tổng số tiền là 3.186.000 đồng. Đối chiếu với kết quả mở thưởng, B đã trúng thưởng 2.400.000 đồng. Tổng số tiền dùng để đánh bạc của B là 5.586.000 đồng. Sau khi đối trừ giữa số tiền đã mua với số tiền trúng thưởng, xác định B đã lỗ 166.500 đồng.

* Đối với Trương Minh H4: Ngày 01/5/2022 mua số ở đài Kiên Giang số lô 02 con số, với số tiền 5.400.000 đồng. Đối chiếu với kết quả mở thưởng H4 không trúng, nên số tiền đánh bạc của H4 là 5.400.000 đồng và H4 đã lỗ 4.500.000 đồng.

* Đối với Đặng Thị Nh: Ngày 05/5/2022 Nh mua ở cụm đài miền Nam bao gồm An Giang, B Thuận và Tây Ninh số đầu số tiền 1.845.000 đồng, 02 cặp số đá số tiền 216.000 đồng, tổng số tiền là 2.061.000 đồng. Đối chiếu với kết quả mở thưởng, Nh không trúng thưởng, nên số tiền đánh bạc của Nhi là 2.061.000 đồng và Nh đã lỗ 1.748.250 đồng.

* Đối với Huỳnh Kim H:

- Ngày 30/4/2022: H mua ở cụm đài miền Nam bao gồm Long An, B Phước và Thành phố Hồ Chí Minh số lô 02 con số số tiền là 1.080.000 đồng. Đối chiếu với kết quả mở thưởng, H đã trúng số tiền 1.600.000 đồng, tổng tiền đánh bạc của H là 2.680.000 đồng. Sau khi đối trừ giữa số tiền đã mua với số tiền trúng thưởng, H đã thu lợi được 700.000 đồng.

- Ngày 04/5/2022: H mua số đề ở đài Sóc Trăng gồm số lô 02 con số số tiền 720.000 đồng. Đối chiếu kết quả mở thưởng, H đã trúng 1.600.000 đồng. Tổng tiền dùng để đánh bạc của H là 2.320.000 đồng. Sau khi đối trừ giữa số tiền đã mua với số tiền trúng thưởng, H đã thu lợi được 1.000.500 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2022/HS-ST ngày 29/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi đã quyết định:

Căn cứ vào điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo L 03 (ba) năm tù về tội “Đánh bạc”, phạt bổ sung bị cáo 20 triệu đồng;

Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo B 01 (một) năm tù về tội “Đánh bạc”, phạt bổ sung bị cáo 15 triệu đồng;

Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo S 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”, phạt bổ sung bị cáo 15 triệu đồng;

Ngoài ra, án sơ thẩm còn xử phạt đối với bị cáo còn lại, xử lý tiền thu lợi bất chính, vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo luật định.

- Ngày 07/10/2022, bị cáo B kháng cáo xin được hưởng án treo hoặc giảm án mức thấp nhất, xin miễn đối với hình phạt bổ sung (phạt tiền).

- Ngày 8/10/2022, bị cáo S kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

- Ngày 10/10/2022, bị cáo L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Các bị cáo L và S vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; Bị cáo B xin rút lại yêu cầu xin miễn nộp tiền phạt bổ sung.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau: Đề nghị áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 355; Điều 356 và Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo L và S về giảm nhẹ hình phạt, chấp nhận kháng cáo của bị cáo B, sửa Bản án hình sự sơ thẩm 38/2022/HS-ST ngày 29/9/2022 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi về phần hình phạt đối với bị cáo B, giảm hình phạt cho bị cáo B từ 02 tháng đến 03 tháng tù.

- Lời nói sau cùng của bị cáo L: Thừa nhận hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt;

- Lời nói sau cùng của bị cáo B: Thừa nhận hành vi phạm tội và xin được hưởng án treo hoặc giảm hình phạt ở mức thấp nhất;

- Lời nói sau cùng của bị cáo S: Thừa nhận hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, cụ thể: Trong các ngày 25/4/2022, 30/4/2022, ngày 01 đến ngày 5/5/2022, Huỳnh Thị Mai L đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức trực tiếp bán lô đề cho Bùi Ngọc S, Trần Thanh B, Trương Minh H4, Đặng Thị Nh, Huỳnh Kim H. Số tiền đánh bạc và thu lợi bất chính của từng người như sau:

- Đối với Huỳnh Thị Mai L: Số tiền đánh bạc ngày 25/4/2022 là 540.000 đồng, thu lợi bất chính 450.000 đồng; Đánh bạc ngày 30/4/2022 là 28.145.000 đồng, không thu lợi; Đánh bạc ngày 01/5/2022 là 15.056.000 đồng, thu lợi bất chính 10.713.500 đồng; Đánh bạc ngày 02/5/2022 là 23.016.000 đồng, thu lợi bất chính 9.759.750 đồng; Đánh bạc ngày 03/5/2022 là 13.732.000 đồng, thu lợi bất chính 4.152.250 đồng; Đánh bạc ngày 04/5/2022 ở cụm đài miền Nam là 59.922.000 đồng, không thu lợi, ở cụm đài miền Bắc là 5.670.000 đồng, thu lợi bất chính 4.830.000 đồng; Đánh bạc ngày 05/5/2022, ở cụm đài miền Nam là 26.722.000 đồng, thu lợi bất chính 10.494.500 đồng, ở cụm đài miền Trung là 11.820.000 đồng, thu lợi bất chính 1.050.000 đồng, ở cụm đài miền Bắc là 2.700.000 đồng, thu lợi bất chính 2.300.000 đồng.

- Đối với Bùi Ngọc S: Ngày 25/4/2022, đánh bạc 540.000 đồng, không thu lợi; Ngày 30/4/2022, đánh bạc 7.600.000 đồng, thu lợi bất chính 1.000.000 đồng; Ngày 03/5/2022, đánh bạc 2.680.000 đồng, thu lợi bất chính 700.000 đồng; Ngày 04/5/2022, ở cụm đài miền Nam đánh bạc 3.760.000 đồng, không thu lợi, ở cụm đài miền Bắc đánh bạc 1.620.000 đồng, không thu lợi; Ngày 05/5/2022, ở cụm đài miền Nam đánh bạc 10.220.000 đồng, không thu lợi, ở cụm đài miền Trung đánh bạc 3.240.000 đồng, không thu lợi, ở cụm đài miền Bắc đánh bạc 2.700.000 đồng, không thu lợi. Tổng số tiền thu lợi bất chính của S là 1.700.000 đồng, trừ số tiền S phải trả cho chủ đề 9.680.000 đồng. Do đó, S không có thu lợi bất chính.

- Đối với Trần Thanh B: Số tiền đánh bạc ngày 02/5/2022 là 7.920.000 đồng, không thu lợi; Số tiền đánh bạc ngày 03/5/2022 là 1.340.000 đồng, thu lợi bất chính 365.000 đồng; Số tiền đánh bạc ngày 04/5/2022 ở cụm đài miền Nam là 14.500.000 đồng, thu lợi bất chính 6.375.000 đồng; Số tiền đánh bạc ngày 05/5/2022 ở cụm đài miền Nam là 5.586.000 đồng, không thu lợi.

- Đối với Trương Minh H4: Số tiền đánh bạc ngày 01/5/2022 là 5.400.000 đồng, không thu lợi.

- Đối với Đặng Thị Nh: Số tiền đánh bạc ngày 05/5/2022 là 2.061.000 đồng, không thu lợi.

- Đối với Huỳnh Kim H: Số tiền đánh bạc ngày 30/4/2022 là 2.680.000 đồng; Tổng số tiền đánh bạc ngày 04/5/2022 là 2.320.000 đồng.

Với các tình tiết nêu trên, Tòa án nhân dân huyện Đầm Đơi đã xét xử bị cáo L về tội “Đánh bạc” theo điểm b khoản 2 Điều 321, xét xử các bị cáo B và S về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ. Đối với Nh và H đã bị cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính do số tiền dùng để đánh bạc không đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự.

Hành vi của bị cáo L thuộc trường hợp tội phạm nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo B và S thuộc trường hợp tội phạm ít nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Các bị cáo đánh bạc là trái pháp luật, phạm tội thì phải bị xử lý và chịu hình phạt theo pháp luật hình sự.

Trong vụ án, bị cáo L giữ vai trò là chủ đề, trực tiếp bán số cho B, S, H4, Nh và H. Khi xét xử, cấp sơ thẩm đã có xem xét đầy đủ và toàn diện tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo gồm: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; chưa có tiền án, tiền sự và áp dụng tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên (bị cáo có 08 lần đánh bạc). Từ đó, xử phạt bị cáo 03 năm tù là mức khởi điểm của khung hình phạt là phù hợp. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và có cung cấp tình tiết giảm nhẹ mới thuộc khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là đã nộp 20 triệu đồng tiền thu lợi bất chính theo quyết định của cấp sơ thẩm. Tuy nhiên, tình tiết giảm nhẹ mới này cũng không làm thay đổi mức hình phạt mà cấp sơ thẩm đã quyết định đối với bị cáo.

Đối với bị cáo B: Bị cáo là người trực tiếp mua số lô, đề từ bị cáo L. Khi xét xử, cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá tính chất và mức độ hành vi phạm tội, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo, gồm: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Cha ruột được tặng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng ba; áp dụng tình tiết tăng nặng là phạm tội 02 lần trở lên (bị cáo có 04 lần đánh bạc). Từ đó, cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo 01 năm tù là phù hợp. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo hoặc giảm nhẹ mức thấp nhất, xin miễn đối với hình phạt bổ sung. Bị cáo có nhân thân không tốt do có 01 tiền sự cũng về hành vi đánh bạc, nay lại phạm tội đánh bạc nhiều lần nên không đủ điều kiện để được hưởng án treo theo quy định. Bị cáo xin miễn nộp phạt do hoàn cảnh khó khăn nhưng thực tế đã tự nguyện nộp tiền thu lợi bất chính, tiền phạt bổ sung, án phí sơ thẩm với tổng số tiền là 15.393.500 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo không còn yêu cầu xin miễn nộp tiền phạt bổ sung được chấp nhận. Do phía bị cáo có tình tiết giảm nhẹ mới thuộc quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, nên chấp nhận kháng cáo của bị cáo để giảm nhẹ một phần hình phạt.

Đối với bị cáo S: Bị cáo là người trực tiếp mua số lô, đề từ bị cáo L. Khi xét xử, cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá tính chất và mức độ hành vi phạm tội, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo, gồm: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Chưa có tiền án, tiền sự; Có ông nội là liệt sĩ, bà nội được tặng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất; áp dụng tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên (bị cáo có 02 lần đánh bạc). Từ đó xử phạt bị cáo 09 tháng tù là phù hợp. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào mới, nên kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận.

Với các phân tích nêu trên, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tại phiên tòa được chấp nhận.

Do kháng cáo không được chấp nhận, nên các bị cáo L và S phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Kháng cáo của bị cáo B được chấp nhận, nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Đối với số tiền phía bị cáo L và bị cáo B nộp sau khi xét xử sơ thẩm sẽ được đối chiếu và khấu trừ trong quá trình thi hành án.

Các phần khác của án sơ thẩm không bị kháng cáo hoặc bị kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ khi hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Huỳnh Thị Mai L và Bùi Ngọc S, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Thanh B; Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2022/HS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi về phần hình phạt đối với các bị cáo L và S; Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2022/HS-ST ngày 29 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi về phần hình phạt đối với bị cáo B.

2. Về trách nhiệm hình sự:

2.1. Căn cứ vào điểm b khoản 2 và khoản 3 Điều 321, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo Huỳnh Thị Mai L 03 (ba) năm tù về tội “Đánh bạc”, phạt bổ sung bị cáo 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng. Thời hạn tù được tính từ ngày 12 tháng 5 năm 2022.

2.2. Căn cứ vào khoản 1 và khoản 3 Điều 321, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo Trần Thanh B 10 (mười tháng) tù về tội “Đánh bạc”, phạt bổ sung bị cáo 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án, được khấu trừ thời gian bị tạm giam từ ngày 17 tháng 6 năm 2022 đến ngày 03 tháng 8 năm 2022;

2.3. Căn cứ vào khoản 1 và khoản 3 Điều 321, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, phạt bị cáo Bùi Ngọc S 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”, phạt bổ sung bị cáo 15.000.000 (mười lăm triệu) đồng. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án, được khấu trừ thời gian bị tạm giam từ ngày 17 tháng 6 năm 2022 đến ngày 03 tháng 8 năm 2022.

3. Số tiền bị cáo L nộp 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng theo Biên lai thu tiền số 0002576 ngày 03/10/2022 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi phát hành được đối chiếu và khấu trừ trong quá trình thi hành án.

4. Số tiền bị cáo B nộp 15.393.500 (mười lăm triệu ba trăm chín mươi ba nghìn năm trăm) đồng theo Biên lai thu tiền số 0002723 ngày 17/10/2022 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi phát hành được đối chiếu và khấu trừ trong quá trình thi hành án.

5. Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2035/UBTVQH14 ngày 30/12/2035 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo L và S phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Trong đó, phần của mỗi bị cáo phải nộp là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng. Bị cáo B không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

6. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ