- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thanh S - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và mức hình phạt: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh S phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 153/2020/HS-ST Ngày: 14-8-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Nhung.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Kim Lý;
2. Bà Nguyễn Thị Thắm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Hoàng An – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Quỳnh – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 154/2020/TLST-HS ngày 27 tháng 7 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 153/2020/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 8 năm 2020, đối với bị cáo:
Nguyễn Thanh S, sinh năm 1994 tại tỉnh Sóc Trăng; hộ khẩu thường trú: Ấp PT, xã HP, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng; chỗ ở: Đường TQĐ, phường CN, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1974 và bà Trần Thị TN, sinh năm 1976; bị cáo có 02 anh em, lớn nhất là bị can, nhỏ nhất sinh năm 2005.
Tiền án, tiền sự: Không.
Ngày 19/4/2020, bị bắt quả tang, tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã Bến Cát. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng: Tăng Nguyễn Kim P, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 01 giờ 30 phút, ngày 19/4/2020, tại khu vực gần cổng chào thị xã Bến Cát thuộc đường ĐT, ấp PT, xã PA, thị xã Bến Cát, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy phối hợp Công an xã PA tiến hành kiểm tra xe mô tô biển số 61U1-8637 do Tăng Thị Kim P điều khiển phía sau chở Nguyễn Thanh S hướng từ Thủ Dầu Một đi Dầu Tiếng. Quá trình kiểm tra phát hiện và thu giữ:
- 01 túi nylon miệng kéo dính bên trong chứa 03 viên nén hình đầu lâu màu hồng do S đang giữ trong lòng bàn tay trái;
- 01 xe mô tô biển số 61U1-8637, màu đỏ, số khung 7U215286, số máy 115286.
Qua làm việc, S khai nhận: 03 Viên nén hình đầu lâu màu hồng là thuốc lắc. S là đối tượng sử dụng ma túy từ tháng 11/2019, nguồn ma túy S có sử dụng là bạn bè cho để sử dụng.
Nguyễn Thanh S và đối tượng tên C (không rõ lai lịch) là bạn bè quen biết ngoài xã hội. Vào khoảng 22 giờ ngày 18/4/2020, C đến uống rượu cùng S tại phòng trọ số 02, nhà trọ không tên, đường TQĐ, phường CN, thành phố Thủ Dầu Một. Trong khi uống rượu, C rủ S mua ma tuý đem về phòng trọ của C ở khu vực xã AT, thị xã Bến Cát để sử dụng. S đồng ý. Do S không có tiền nên C nói để C trả tiền. Lúc này, S điện thoại cho P là bạn bè ngoài xã hội, nói P thuê xe mô tô qua phòng trọ của S để lấy xe mô tô biển số 61U1-8637 chở S đi công việc. P đồng ý. Khoảng 23 giờ 30 phút, P đến phòng trọ của S, S nói P lấy xe mô tô biển số 61U1-8637 đi đâu đi rồi S điện thoại quay lại đón S sau. Lúc này, C gọi cho người bán ma tuý (không rõ nhân thân lai lịch) đặt mua 03 viên thuốc lắc với giá 900.000 đồng.
Khoảng 01 giờ 10 phút, ngày 19/4/2020, người bán ma tuý đến giao ma tuý tại phòng trọ của S, do C đi vệ sinh nên C đưa tiền cho S. S giao tiền cầm 03 viên thuốc lắc hình đầu lâu màu hồng trong lòng bàn tay trái. Sau khi mua được ma tuý, S điện thoại nói P đến khu vực Ngã ba Suối Giữa chở S đi đến phòng trọ của C ở khu vực xã AT, thị xã Bến Cát. Sau đó C chở S từ nhà trọ của S ra khu vực Suối Giữa. Tại khu vực Ngã ba Suối Giữa, S qua xe của P. C dẫn đường, P chở S chạy phía sau. Khi đến khu vực gần cổng chào thị xã Bến Cát thuộc đường ĐT, ấp PT, xã PA, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương thì S bị lực lượng Công an kiểm tra, bắt giữ. C thấy vậy điều khiển xe mô tô bỏ chạy thoát.
Theo kết luận giám định số 227/MT-PC09 ngày 23/4/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, kết luận: Mẫu tinh thể gửi giám định ma túy 0,9814 gam, loại MDMA. Hoàn lại khối lượng 0,3124 gam.
Đối với xe mô tô biển số 61U1-8637 do anh Vũ Viết T (sinh năm 1992; hộ khẩu thường trú: Ấp PS, xã PH, huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu) mua của bà Nguyễn Thị S (sinh năm 1958; hộ khẩu thường trú: Số Z, đường HVC, tổ Z5, khu phố CL7, phường CM, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương) vào khoảng tháng 02/2020 với giá 1.000.000 đồng. T cho S mượn để đi làm nên không biết S có sử dụng ma tuý. Vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát đã ra quyết định xử lý vật chứng số 282 ngày 30/6/2020 giao trả lại xe mô tô cho T.
Đối với đối tượng tên C là người trực tiếp liên lạc mua ma túy, đưa tiền cho bị cáo S mua ma túy và yêu cầu S vận chuyển ma túy lên thị xã Bến Cát để sử dụng và đối tượng bán ma túy cho S và C. Lời khai của bị cáo về nhân thân, lai lịch của 02 đối tượng này chưa rõ nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với Tăng Nguyễn Kim P, P không sử dụng ma túy và không biết S có cất giấu ma túy nên không có cơ sở để xử lý hình sự.
Tại bản Cáo trạng số 165/CT-VKSBC ngày 27/7/2020 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Thanh S về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát trong phần tranh luận tại phiên tòa, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh S mức án từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 09 tháng tù.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên tịch thu và tiêu hủy: 01 Bì thư dán kín số 227/PC09 được niêm phong, bên trong có chứa 0,3124 gam loại MDMA.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi đúng như nội dung Cáo trạng truy tố, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo không có tranh luận gì với đại diện Viện Kiểm sát và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã đảm bảo thực hiện đúng và đầy đủ.
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thanh S đã khai nhận: Vào Lúc 01 giờ 30 phút, ngày 19/4/2020, tại khu vực gần cổng chào thị xã Bến Cát thuộc đường ĐT, ấp PT, xã PA, thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, bị cáo S đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,9814 gam loại MDMA nhằm mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Xét bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Về nhận thức, bị cáo hoàn toàn biết ma tuý là loại độc dược gây nghiện do Nhà nước độc quyền quản lý, nghiêm cấm các hoạt động sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép. Nhưng vì thỏa mãn cơn nghiện của bản thân nên bị cáo vẫn cố tình phạm tội, bất chấp hậu quả. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Ma túy là một loại chất độc gây ra tác hại rất lớn về nhiều mặt cho xã hội, làm ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và cũng là mầm mống lan truyền căn bệnh của xã hội như HIV,... Ma túy còn là nguyên nhân dẫn đến những loại tội phạm khác.
Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Như vậy, bản Cáo trạng số 165/CT-VKS-BC ngày 27/7/2020 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Do đó, Hội đồng xét xử cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo nhằm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục cho các bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là phù hợp và có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với hành vi của Tăng Nguyễn Kim P, do P không sử dụng ma túy và không biết S có cất giấu ma túy nên không xử lý hình sự đối với P là phù hợp.
Đối với hành vi của đối tượng tên C và hành vi bán ma túy cho bị cáo của đối tượng không rõ nhân thân, lai lịch, kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát tiếp tục điều tra, làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 Bì thư dán kín số 227/PC09 được niêm phong, bên trong có chứa 0,3124 gam loại MDMA là chất thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ. Nên cần tịch thu và tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Đối với xe mô tô biển số 61U1-8637 quá trình điều tra đã làm rõ xe mô tô này là tài sản của anh Vũ Viết T. Anh T cho bị cáo S mượn để đi làm, không biết bị cáo có sử dụng ma tuý. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng và giao trả lại xe mô tô cho anh T là phù hợp.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 136, Điều 260, khoản 1 Điều 268, Điều 269 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ khoản 1 Điều 21, khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về tội danh và mức hình phạt: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh S phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh S 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 19/4/2020.
2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu và tiêu hủy: 01 Bì thư dán kín số 227/PC09 được niêm phong có chữ ký của Nguyễn Thanh S (người chứng kiến), Phan Ngọc H (Cán bộ giao mẫu), Nhan Thái H (Giám định viên/Trợ lý giám định) và hình dấu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, bên trong có chứa 0,3124 gam loại MDMA (theo Kết luận Giám định số 227/MT-PC09 ngày 23/4/2020).
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/8/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Thanh S phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương; - VKSND thị xã Bến Cát; - Chi cục THADS thị xã Bến Cát; - Công an thị xã Bến Cát; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: Hồ sơ, VT. HỘI THẨM NHÂN DÂN | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đỗ Thị Nhung THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đỗ Thị Nhung |