vanban.org

Bản án 153/2019/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Tây Hồ, TP. Hà Nội Tuyên án 24/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo bị cáo Lê Huy H và Lê Diệu H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

Xử phạt: Bị cáo Lê Huy H 30 (ba mươi ) tháng tù. Tổng hợp hình phạt với 36 (Ba mươi sáu ) tháng tù tại bản án số 177 ngày 22/8/2018. Buộc bị cáo H phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 66 ( sáu mươi sáu )tháng tù .Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/5/2019. được trừ thời … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo bị cáo Lê Huy H và Lê Diệu H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 22 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN T
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 153/2019/HS-ST
Ngày: 24/10/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN T

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Tuyết Mai

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Lịch

Bà Nguyễn Thị Ánh Ngọc

- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Hoàng Hà – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân quận T, thành phố Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận T tham gia phiên toà:

Ông Lê Khắc Minh - Kiểm sát viên

Trong ngày 24 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận T, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 150/2019/ TLST-HS ngày10 tháng 9 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 176/2019/QĐXXST- HS ngày 07 tháng 10 năm 2019, đối với bị cáo:

Lê Huy H Sinh năm 1975. HKTT: P8 B20A tập thể dược K, K, Đống Đa, Hà Nội. Chỗ ở: Sống lang thang do trốn lệnh truy nã.Văn hóa: 12/12. Nghề nghiệp: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Lê Khắc T, Sinh năm: 1930 (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị D, Sinh năm: 1941; Gia đình có 3 anh chị em bị caó là con thứ 3. Theo danh bản, chỉ bản số 250 lập ngày 04/6/2019 tại công an quận T và lý lịch địa phương cung cấp bị cáo có 02 tiền án, trong đó 01 tiền án chưa được xóa. 02 tiền sự đã được xóa.

Ngày 22.08.2018, Tòa án nhân dân quận C - Hà Nội xử phạt 36 tháng tù tội “tàng trữ trái phép chất ma túy”, hiện Lê Huy H đang trốn thi hành án của bản án này.

Nhân thân :

Ngày 28.08.2003, Công an phường N, quận H, Hà Nội, phạt cảnh cáo tội chiếm giữ trái phép tài sản. Ngày04.06.2015, Công an phường K, quận B, Hà Nội, XPHC 1.500.000đ hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 02.07.2004, Tòa án NDTP Hà Nội xử phạt 7 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” – Ra trại ngày 09.09.2009 (án đã được xóa án tích).

Bị caó bị bắt ngày 27/5/2019 hiện đang tạm giam tại trại giam số 1- Công an TP. Hà Nội ( Có mặt tại phiên Tòa )

Lê Diệu H Sinh năm : 1990 Giới tính : Nữ.HKTT: Số 29A C, phường T, quận B, Thành Phố Hà Nội. Chỗ ở: Số 29A C, phường T, quận B, TP.Hà Nội. Văn hóa:12/12. Nghề nghiệp: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông : Lê Trung C Sinh năm : 1955 (đã chết);Con bà : Lê Thị D Sinh năm : 1952.Gia đình có 3 anh chị em bị caó là con thứ 2.Chồng: Hoàng Trung D Sinh năm : 1992.Con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2017. Theo danh bản,chỉ bản số 251 lập ngày 04/3/2019 tại công an quận T và lý lịch địa phương cung cấp bị cáo chưa có tiền án tiền sự.

Bị cáo bị bắt ngày 27.05.2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn vào ngày 05.06.2019. Bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 05.06.2019 ( Có mặt tại phiên Tòa )

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt lại như sau:

Hồi 15h45 ngày 27.05.2019, Công an phường T kiểm tra tạm trú, nhà số 27 ngõ 172 A, T, T, Hà Nội phát hiện trong nhà có 1 nam và 1 nữ. Khi tổ công tác yêu cầu cung cấp thông tin cá nhân thì người đàn ông liền bỏ chạy về hướng đường Âu Cơ, người phụ nữ còn lại khai họ tên là Lê Diệu H. Quá trình kiểm tra tổ công tác phát hiện bên trong thùng rác dưới gầm bếp tầng 1 có 01 bình thủy tinh màu trắng gắn tẩu hút tự tạo bên trong chứa tinh thể màu trắng, H khai nhận đó là ma túy đá. Tổ công tác hỏi H còn ma túy đá ở đâu thì H tiếp tục giao nộp cho tổ công tác 01 hộp giấy màu đỏ ở dưới gầm bếp tầng 01(cạnh thùng rác) bên trong có; 01 gói nilon chứa tinh thể màu trắng, 01 gói nilon chứa chất bột màu xanh , 01 gói nilon dính chất bột màu đỏ, 01 tẩu hút tự tạo chứa tinh thể màu trắng, 10 gói nilon màu trắng kích thước 2x2cm; 01 cân điện tử màu đen kích thước 5x10cm để tại giá tủ bếp tầng 1, 01 ĐTDĐ OPPO màu đỏ đen, 01 xe máy Vision màu đen BKS: 29B1-68184; 01 xe máy Piagio Zip màu xanh đen BKS: 29E1-65405 của người đàn ông vừa bỏ chạy.

Về người đàn ông khi tổ công tác yêu cầu kiểm tra thì bỏ chạy về hướng đường Â, tổ công tác truy đuổi đến khu vực đình N, ngõ 200 Â, T, T, Hà Nội thì bị bắt giữ, xác định là Lê Huy H, bạn trai của Lê Diệu H ở chung phòng trọ do H thuê. Tổ công tác tiến hành lập biên bản thu giữ, niêm phong, đưa hai đối tượng cùng tang vật về trụ sở làm rõ.

Vật chứng Công an thu giữ của Lê Diệu H :

- 01 bình thủy tinh gắn tẩu hút tự tạo bên trong chứa tinh thể màu trắng, kết luận giám định sơ bộ là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,090 gam.

- 01 hộp giấy màu đỏ bên trong có :

+ 01 gói nilon bên trong chứa tinh thể màu trắng, kết luận giám định sơ bộ là ma túy loại ketamine, khối lượng 0,050 gam.

+ 01 gói nilon bên trong chứa chất bột màu xanh, kết luận giám định sơ bộ là ma túy loại MDMA, khối lượng 0,328 gam.

+ 01 gói nilon bên trong dính chất bột màu đỏ, kết luận giám định sơ bộ là ma túy loại Methamphetamine.

+ 01 tẩu hút tự tạo bên trong chứa tinh thể màu trắng, kết luận giám định sơ bộ là ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,040 gam.

+ 10 gói nilon màu trắng kích thước 2x2cm

- 01 cân điện tử màu đen kích thước 5x10 cm chưa qua sử dụng.

- 01 xe máy Vision màu đen BKS: 29B1-68184 đã qua sử dụng.

- 01 xe máy Piazo Zip màu xanh đen BKS : 29E1-65405 SM:4006705, chưa xác định số khung đã qua sử dụng.

- 01 ĐTDĐ OPPO màu đỏ, đen đã qua sử dụng.

Vật chứng Công an thu giữ của Lê Huy H:

- 01 ĐTDĐ SAMSUNG J7+ màu trắng vàng đã qua sử dụng

- 01 ĐTDĐ IPHONE màu xám, đen đã qua sử dụng

- 839.000đ (Tám trăm ba chín nghìn đồng).

Kết luận giám định ngày 03.06.2019 của phòng KTHS-Công an thành phố Hà Nội về ma túy thu giữ của H và H kết quả như sau : 0,130 gam Methaphetamine; 0,05 gam Ketamine; 0,328 gam MDMA.

Quá trình điều tra Lê Diệu H, Lê Huy H khai nhận hành vi phạm tội: H khai chiếc bình thủy tinh gắn tẩu hút tự tạo là của H mang đến nhà H để cùng sử dụng ma túy đá; chiếc cân điện tử H mang đến để tại giá bếp tầng 1 lúc nào H không biết; tẩu hút tự tạo bên trong là ma túy đá H mang đến nhà H sử dụng còn sót lại; chất bột màu xanh bên trong gói nilon là ma túy tổng hợp (thuốc lắc), H mang đến nhà H gồm 02 viên màu xanh dạng hình tròn, H và H đã nghiền tra thành dạng bột và sử dụng một phần, chỗ còn lại H cho vào gói nilon để trong hộp giấy màu đỏ; 01 gói nilon chứa tinh thể màu trắng và 01 gói nilon dính chất bột màu đỏ là của H mang đến, để vào bên trong hộp giấy. H khai nhận việc sử dụng trái phép chất ma túy cùng với H và biết việc H cất giấu ma túy tại các vị trí trong nhà H. Về chiếc xe máy Vision BKS: 29B1- 68184 H mua tại chợ xe, có đăng ký xe mang tên Quách Xuân H.

H khai : Hoàng có đến khu vực đường K mua 300.000đ ma túy đá, 200.000đ ma túy ke, 300.000đ ma túy kẹo (được 2 viên màu xanh) của một người đàn ông lạ mặt sau đó mang về nhà H với mục đích cùng H sử dụng, sau khi sử dụng H cất dấu bên trong hộp giấy màu đỏ để tại dưới gầm bếp tầng 1. Sáng ngày 27/5/2019 sau khi cùng H sử dụng ma túy đá H cất bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 bình thủy tinh gắn tẩu hút tự tạo vào bên trong thùng rác dưới gầm bếp tầng 1. Chiếc cân điện tử H mua ở phố H với giá 350.000đ nhưng chưa sử dụng bao giờ. Việc H mua ma túy về và cất giấu ở các vị trí trong nhà số 27 ngõ 172 Â, H đều biết vì H thường xuyên sử dụng ma túy của H. Khi cơ quan công an kiểm tra tạm trú, H liền bỏ chạy vì H đang trốn thi hành án (bản án của tòa C xử 36 tháng tù giam tội tàng trữ trái phép chất ma túy). Về chiếc xe máy Piagio Zip BKS: 29E1- 65405 H khai mua cách đây 4 ngày với gia 6triệu đồng của một người trên mạng Facebook.

Cơ quan điều tra cũng đã ra quyết định thu giữ điện tín liên quan đến các số điện thoại liên lạc được lưu giữ gọi đi, gọi đến, nhắn tin cho bị caó Lê Huy H để mở rộng điều tra nhưng không xác định được chủ thuê bao, nên không có cơ sở để mở rộng điều tra, xử lý đối tượng liên quan.

Đối với chiếc xe máy Vision màu đen BKS : 29.B1-68184 Cơ quan điều tra đã xác định được là của bà bà Lê Thị D (Sinh năm 1952 – Trú tại 29A C, T, B, Hà Nội – Là mẹ của bị can H). Bà D cho bị can Lê Diệu H, mượn xe để đi lại, và không biết việc tàng trữ trái phép ma túy của H, nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho bà D, bà D đã nhận lại và không có yêu cầu gì khác nên không xem xét.

Đối với chiếc xe máy Piagio Zip, đeo biển kiểm soát 29E1-645.05, số khung *RP8M25310EV107177*, số máy M253M*4006705*, tra cứu biển kiểm soát tại cơ quan đăng ký xe được cung cấp chủ đăng ký biển kiểm soát trên là Dương Tự C, trú tại 68 Phan Văn T, Q, Đ, Hà Nội. Nhưng Số khung : 051684; số máy : 0023458.

Tra cứu xe vật chứng không có trong dữ liệu xe vật chứng. Tiến hành xác minh triệu tập ghi lời khai Dương Tự C tại phường Quốc Tử G, Đ và phường H, H, Hà Nội nhưng chưa thu thập được lời khai của anh C, lý do anh C đang ở nước ngoài, chưa rõ khi nào mới về Việt Nam.

Đối với số khung *RP8M25310EV107177*, số máy M253M*4006705* của chiếc xe Zip đã thu giữ, qua tra cứu ra biển kiểm soát của xe là 29B1-533.42, chủ đăng ký xe là Phạm Thị Thanh H, trú tại 410 nhà T2, tập thể 59 N, B, Hà Nội; tra cứu xe vật chứng không có trong dữ liệu xe vật chứng, kết luận giám định số khung, số máy là nguyên thủy.

Tiến hành ghi lời khai chị Phạm Thị Thanh H, trú tại 410 nhà T2, tập thể 59 N, B, Hà Nội, chị H khai báo tháng 11/2014, chị H mua và đứng tên chính chủ một chiếc xe máy Piagio Zip, biển kiểm soát 29B1- 533.42 số khung *RP8M25310EV107177*, số máy M253M*4006705*. Sau khi mua, chị H sử dụng xe đi lại hàng ngày. Đến ngày 14/05/2019, chị H dựng xe ở trước cửa công ty số 41 ngõ 59 H, Ô, Đ, Hà Nội thì bị kẻ gian lấy trộm mất. Chị H không trình báo công an phường vì nghĩ không tìm lại được chiếc xe trên. Xác minh tại công an phường Ô, Đ, Hà Nội; công an phường cung cấp không có công dân nào đến trình báo về việc bị mất trộm tài sản là chiếc xe máy có đặc điểm trên.

Lê Huy H khai nhận nguồn gốc chiếc xe máy Piagio Zip, đeo biển kiểm soát 29E1-645.05, số khung *RP8M25310EV107177*, số máy M253M*4006705* là do H mua của một người đàn ông quen trên mạng xã hội facebook với giá 6 triệu đồng, trước ngày H bị bắt 4 ngày, khi mua biết xe không có giấy tờ nhưng do hám rẻ nên H đã mua chiếc xe trên để sử dụng đi lại.

Chiếc xe máy trên là vật chứng của vụ trộm cắp tài sản tại phường Ô, Đ, Hà Nội, tuy nhiên chị Phạm Thị Thanh H không trình báo, hiện tại Cơ quan CSĐT-Công an quận Đ chưa khởi tố vụ án, nên chưa có cơ sở chuyển chiếc xe vật chứng đến cơ quan CSĐT-Công an quận Đ. Ngày 19.08.2019 Cơ quan CSĐT-Công an quận T đã ra quyết định tách rút tài liệu liên quan đến chiếc xe máy trên khi nào Cơ quan CSĐT-Công an quận Đ khởi tố vụ án sẽ chuyển vật chứng theo đúng qui định nên không xem xét.

Bản Cáo trạng số 135/CT-VKS ngày 05 tháng 9 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân quận T đã truy tố bị cáo Lê Huy H và Lê Diệu H về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa: Các bị cáo khai nhận hành vi như cáo trạng truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: qua xét hỏi, thẩm vấn tại phiên tòa, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Huy H và Lê Diệu H phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy như nội dung bản cáo trạng truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 và khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 , điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;. Xử phạt bị cáo Lê Huy H từ 30 đến 36 tháng tù. Tổng hợp hình phạt với 36 (Ba mươi sáu ) tháng tù tại bản án số 177 ngày 22/8/2018. Buộc bị cáo H phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 66 ( sáu mươi sáu )tháng tù .Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/5/2019. được trừ thời gian tạm giữ của bản án số 177 ngày 22/8/2018 từ 15/3/2018 đến 27/3/2018 Xử phạt: Bị cáo Lê Diệu H 24 ( hai mươi bốn ) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án được trừ thời gian tạm giữ từ 27/5/2019 đến 05.06.2019.

Tịch thu tiêu hủy 01 hộp giấy màu đỏ bên trong có 10 gói nilon màu trắng kích thước 2x2cm, 01 gói niêm phong trong có 01 bình thủy tinh gắn tẩu hút tự tạo và 01 tẩu hút tự tạo bên ngoài có chữ ký của Lê Diệu H, giám định viên và dấu của cơ quan cảnh sát điều tra , 01 bao niêm phong màu trắng , ở các mép bao niêm phong được dán kín có chữ ký của đối tượng H giám định viên và dấu của cơ quan cảnh sát điều tra ( là toàn bộ số ma túy các bị cáo tàng trữ 0,130 gam Methaphetamine; 0,05 gam Ketamine; 0,328 gam MD ). Tịch thu xung công quỹ 01 cân điện tử màu đen kích thước 5x10 cm, 01 điện thoại di động OPPO màu đỏ, đen đã qua sử dụng ,01 điện thoại di động SAMSUNG J7+ màu trắng vàng EMEI1: 352808/09/273517/4, IMEI2: 352809/09/273517/2, 01 điện thoại di động IPHONE màu xám/ đen IMEI: 356988062780982 và 839.000đ (tám trăm ba chín nghìn đồng).

Các bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi của các bị cáo: Ngày 27.05.2019, Tại nhà số 27 ngõ 172 Âu Cơ, Tứ Liên, Tây Hồ, Hà Nội, Lê Huy H và Lê Diệu H có hành vi đồng phạm tàng trữ ma túy trái phép với khối lượng ma túy : 0,130 gam Methaphetamine; 0,05 gam Ketamine; 0,328 gam MDMA. Với mục đích để cùng sử dụng, thì bị Công an phường T, quận T, bắt quả tang cùng vật chứng.

Như vậy, có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Lê Huy H và Lê Diệu H đã phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 như lời luận tội của Viện kiểm sát nhân dân quận T là đúng.

Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự trị an, làm gia tăng tệ nạn và các tội phạm về ma túy, gây ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh của con người, hủy hoại sức khỏe, giảm khả năng lao động, tăng nguy cơ lây nhiễm các bệnh HIV-AIDS và là một trong những nguyên nhân gây ra tội phạm khác. Các bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Trọng lượng ma túy các bị cáo tàng trữ, mua bán rất lớn. Do vậy, việc truy tố, xét xử các bị cáo là cần thiết nhằm giáo dục các bị cáo nói riêng và còn răn đe, phòng ngừa loại tội phạm này. Cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo, cách ly khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét nhân thân bị cáo Lê Huy H có 02 tiền sự đã được xóa, 02 tiền án, trong đó có 01 tiền án năm 2004 đã được xóa, 01 tiền án ngày 22.08.2018 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy-Hà Nội xử phạt 36 tháng tù tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” đã có hiệu lực pháp luật, bị cáo chưa chấp hành hình phạt tù do bị cáo trốn thi hành án và bị truy nã.Vì vậy cần tổng hợp hình phạt bản án này với hình phạt 36 tháng tù của bản án số 177 ngày 22/8/2019 của Tòa án nhân dân quận Cầu Giấy là phù hợp với quy định tại điều 56 Bộ luật hình sự. Tiền án này chưa được xóa. Bị cáo phạm tội lần này là tái phạm.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự : Tiền án năm 2018 của bị cáo chưa được xóa, phạm tội lần này là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015. Nhân thân của bị cáo Lê Diệu H có chưa có tiền án, tiền sự , hiện đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra của cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải , nhân thân của bị cáo Lê Diệu H có chưa tiền án, tiền sự , hiện đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng nên cũng xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo là phù hợp với điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015.

Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 hộp giấy màu đỏ bên trong có 10 gói nilon màu trắng kích thước 2x2cm, 01 gói niêm phong trong có 01 bình thủy tinh gắn tẩu hút tự tạo và 01 tẩu hút tự tạo bên ngoài có chữ ký của Lê Diệu H, giám định viên và dấu của cơ quan cảnh sát điều tra , 01 bao niêm phong màu trắng , ở các mép bao niêm phong được dán kín có chữ ký của đối tượng H giám định viên và dấu của cơ quan cảnh sát điều tra ( là toàn bộ số ma túy các bị cáo tàng trữ 0,130 gam Methaphetamine; 0,05 gam Ketamine; 0,328 gam MD ). Tịch thu xung công quỹ 01 cân điện tử màu đen kích thước 5x10 cm chưa qua sử dụng. 01 điện thoại di động OPPO màu đỏ, đen đã qua sử dụng ,01 điện thoại di động SAMSUNG J7+ màu trắng vàng EMEI1: 352808/09/273517/4, IMEI2: 352809/09/273517/2, 01 điện thoại di động IPHONE màu xám/ đen IMEI: 356988062780982 và 839.000đ (tám trăm ba chín nghìn đồng).

Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo bị cáo Lê Huy H và Lê Diệu H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 điều 52, Điều 38 , điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017

Xử phạt: Bị cáo Lê Huy H 30 (ba mươi ) tháng tù. Tổng hợp hình phạt với 36 (Ba mươi sáu ) tháng tù tại bản án số 177 ngày 22/8/2018. Buộc bị cáo H phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 66 ( sáu mươi sáu )tháng tù .Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27/5/2019. được trừ thời gian tạm giữ của bản án số 177 ngày 22/8/2018 từ 15/3/2018 đến 27/3/2018 .

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017

Xử phạt: Bị cáo Lê Diệu H 24 ( hai mươi bốn ) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án được trừ thời gian tạm giữ từ 27/5/2019 đến 05.06.2019.

- Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;

Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 hộp giấy màu đỏ bên trong có 10 gói nilon màu trắng kích thước 2x2cm, 01 gói niêm phong trong có 01 bình thủy tinh gắn tẩu hút tự tạo và 01 tẩu hút tự tạo bên ngoài có chữ ký của Lê Diệu H, giám định viên và dấu của cơ quan cảnh sát điều tra , 01 bao niêm phong màu trắng , ở các mép bao niêm phong được dán kín có chữ ký của đối tượng H giám định viên và dấu của cơ quan cảnh sát điều tra ( là toàn bộ số ma túy các bị cáo tàng trữ 0,130 gam Methaphetamine; 0,05 gam Ketamine; 0,328 gam MD ). Tịch thu xung công quỹ 01 cân điện tử màu đen kích thước 5x10 cm chưa qua sử dụng. 01 điện thoại di động OPPO màu đỏ, đen đã qua sử dụng ,01 điện thoại di động SAMSUNG J7+ màu trắng vàng EMEI1: 352808/09/273517/4, IMEI2: 352809/09/273517/2, 01 điện thoại di động IPHONE màu xám/ đen IMEI: 356988062780982 và 839.000đ (tám trăm ba chín nghìn đồng).

(Toàn bộ tang vật hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận T, biên bản giao nhận ngày 28/8/2019 và Kho bạc nhà nước biên bản giao nhận ngày 30/7/2019)

- Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 22 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về chế độ án phí, lệ phí Tòa án.

Mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ(Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Căn cứ các Điều 331, Điều 333, Điều 336, Điều 337 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ